Tháng 12
năm 1949, Mao Trạch Đông – lãnh đạo tối cao của nước Cộng hòa Nhân dân Trung
Hoa non trẻ – đã có chuyến thăm đến Matxcơva để thương lượng trở thành đồng
minh quân sự với Liên Xô. Tuy nhiên, trong vòng chưa đến hai thập kỉ sau đó,
liên minh quân sự Xô – Trung đã không những sụp đổ mà còn biến thành thế đối
đầu căng thẳng cả về quân sự và ý thức hệ. Những nhu cầu cấp bách mang tính
chiến lược của đất nước đã buộc giới lãnh đạo Trung Quốc phải xích lại gần với
Hoa Kỳ, và từ sau năm 1972, tạo nên một mô hình bán liên minh giữa 2 quốc gia
từng có quá khứ thù địch này. Tháng 1 năm 1979, trong chuyến thăm Washington,
ông Đặng Tiểu Bình đã tìm cách lôi kéo Hoa Kỳ để phát triển quan hệ hai nước
thành đồng minh không chính thức trên thực tế nhằm đảm bảo được Hoa Kỳ ủng hộ
trong cuộc xâm lược Việt Nam sắp đến của Trung Quốc. Trong thập kỉ cuối của
Chiến tranh Lạnh, Trung Quốc và Hoa Kỳ cũng duy trì quan hệ ở mức hợp tác chiến
lược nhằm chống lại Liên Xô.1
Hồ sơ của
Trung Quốc về chính trị liên minh thời kì Chiến tranh Lạnh do vậy quả thực rất
ấn tượng. Tuy vậy, vào những năm đầu của thập niên 1980, mặc dù quan hệ bán
liên minh với Hoa Kỳ vẫn được duy trì một cách hạn chế, nhưng những ngôn từ về
vấn đề liên minh quân sự đã không còn xuất hiện trong phát ngôn chính thức.
Trên thực tế, chủ trương liên minh đã bắt đầu suy giảm khi quan hệ Xô – Trung
xấu đi vào cuối những năm 1950, và cuối cùng kết thúc vào năm 1982 khi Đại hội
Đảng lần thứ 12 đặt ra “chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập và tự chủ”. Bắc
Kinh tuyên bố theo đuổi nguyên tắc không liên kết trong quan hệ với Hoa Kỳ và
Liên Xô, nhằm thực hiện chính sách ngoại giao độc lập.2 Có thể nói
đây là một bước ngoặt trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc: từ những năm
cuối cùng của Chiến tranh Lạnh khi Trung Quốc thực hiện cải cách kinh tế, rồi
đến những thay đổi của thập niên 1990 giúp nền kinh tế Trung Quốc phát triển
vượt bậc cho đến tận ngày hôm nay, khi quốc gia này đã đánh dấu sự hiện diện
một cách rõ ràng trên trường quốc tế, nguyên tắc ngoại giao nhất quán của Bắc
Kinh là không liên minh, và xem chính sách liên minh là một di sản của thời kỳ
Chiến tranh Lạnh không phù hợp với đạo đức Trung Hoa.
Tuy thế,
quan điểm liên minh đang dần trở lại trong cộng đồng học giả và những nhà làm
chính sách của Trung Quốc. Những học giả lớn đang đề nghị đánh giá lại nguyên
tắc không liên kết trong chính sách đối ngoại của quốc gia. Mặc dù đây chỉ là
những ý kiến bên lề, vài năm gần đây luồng tư tưởng mới về liên minh đã xuất
hiện và được cổ vũ bởi một số học giả nghiên cứu quan hệ quốc tế nổi tiếng. Vì
sao tư tưởng liên minh quay trở lại bàn nghị luận? Tư tưởng này có thể tạo ra
những tác động nào đến chính sách? Nguồn gốc đem đến quan điểm mới về liên minh
của Trung Quốc về cơ bản cũng tương tự như những nguồn gốc chính sách liên minh
trong thời kì Chiến tranh Lạnh: họ cảm thấy bị thúc đẩy bởi những áp lực mang
tính chiến lược từ thay đổi trong cấu trúc hệ thống quốc tế. Cũng giống như áp
lực từ Hoa Kỳ ngay sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai buộc Trung Quốc phải
liên minh với Liên Xô, hay như áp lực từ Liên Xô trong những năm cuối thập kỉ
1960 buộc Trung Quốc phải tìm kiếm liên minh với Mỹ, thì giờ đây, áp lực từ
việc Mỹ tăng cường ảnh hưởng tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương – cái mà Mỹ
gọi là “xoay trục về châu Á”3 – đã thúc đẩy những nhà bảo thủ ở
Trung Quốc phải xem xét lại khả năng sử dụng phương án liên minh như là một lựa
chọn trong chiến lược mới của Trung Quốc. Tuy vậy, chúng ta cần phải thảo luận
về các nguyên do khác của tư tưởng liên minh mới của Trung Quốc, cũng như giá
trị tư tưởng và tác động chính sách của sự thay đổi này.
Quan điểm mới
Trong số
những người có đóng góp cho dòng quan điểm về quan hệ quốc tế không chính thống
của Trung Quốc đương đại, Diêm Học Thông (Yan Xuetong) từ đại học Thanh
Hoa có thể được xem là một trong những nhân vật gây tranh cãi nhất và ủng
hộ mạnh mẽ những chính sách ngoại giao phi chính thống.4 Ông cũng là
người kiên định nhất trong số những nhà phân tích Trung Quốc bảo vệ quan điểm
liên minh và đã bắt đầu đề xuất ý tưởng này từ năm 2009.5 Năm kế đó,
trong một cuộc nói chuyện với sinh viên, ông Diêm nhấn mạnh chủ trương không
liên minh là một điểm yếu rất lớn trong chính sách đối ngoại Trung Quốc vì nó
đã ngăn cản Trung Quốc cải thiện quan hệ với các nước láng giềng. Quan điểm này
dựa trên lý luận có vẻ nghịch lý rằng, khi Trung Quốc trỗi dậy làm tình thế
lưỡng nan về an ninh tại Đông Á trở nên nghiêm trọng hơn, một chính sách liên
minh tạo ra sự đảm bảo an ninh của Trung Quốc với các quốc gia láng giềng có
thể sẽ là cách tốt nhất để làm giảm nhẹ đi sự hoài nghi của họ về sức mạnh
Trung Quốc, từ đó giúp tình trạng căng thẳng trong khu vực dịu đi.6
Trong một
bài viết được đăng năm 2011 trên Hoàn Cầu Thời Báo, nơi Diêm là cộng tác
viên thường trực, ông ta đã tranh luận rằng sự phân phối quyền lực trên thế
giới hiện nay thực chất đang phát triển theo hướng “nhị siêu – đa cường” hơn là
đa cực (ít nhất là về vật lực), với Trung Quốc và Mỹ dẫn đầu trật tự thế giới.7
Cũng cần lưu ý rằng Diêm đã từng là một thành viên tham gia tích cực
trong những cuộc tranh luận chiến lược của Trung Quốc về trật tự thế giới trong
nửa đầu thập niên 1990. Các cuộc tranh luận này đã gần đạt được sự nhất trí
trong nội bộ Trung Quốc rằng hệ thống quốc tế những năm 1990 được đặc trưng bởi
tính chất “nhất siêu – đa cường” với Mỹ là siêu cường duy nhất và Trung Quốc
nằm trong phần “đa cường” còn lại. Ở thời điểm hiện tại, sự phát triển kinh tế
liên tục của Trung Quốc đã làm cho Diêm cân nhắc lại những đánh giá trước đó
của mình, từ đó ủng hộ ý tưởng về một hệ thống lưỡng cực mới nổi lên. Tuy vậy,
xét về mặt trật tự chiến lược quốc tế, ông Diêm lại bi quan cho rằng thế đơn
cực của Mỹ đã được củng cố mạnh mẽ hơn chứ không hề bị suy yếu, chủ yếu là do
chính sách ngoại giao khôn ngoan mà chính quyền Obama đang thực hiện. Diêm cũng
cho rằng Trung Quốc hiện là quốc gia duy nhất trên thế giới có thể thách thức
hệ thống đơn cực chiến lược xoay quanh Mỹ, bằng cách thiết lập liên minh với
Nga.
Năm 2012,
Diêm đẩy mạnh kêu gọi chính phủ thay đổi nguyên tắc ngoại giao. Trong một bài
báo viết về vấn đề Biển Đông đăng trên tạp chí Vấn Đề Thế Giới (World
Affairs), Diêm đã lồng vào đó quan điểm cho rằng chính phủ cần phải
từ bỏ chính sách thao quang dưỡng hối và chủ trương không liên kết, lần
lượt là hai nền tảng của chính sách đối ngoại Trung Quốc trong suốt 20-30 năm
qua. Chủ trương đầu tiên – thường bị hiểu sai lệch là (thực sự) “ẩn mình chờ
thời” – được Đặng Tiểu Bình đề ra sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989 và sự sụp
đổ của Liên Xô tiếp sau đó.8 Để thay thế thao quang dưỡng hối
(tao guang yang hui), Diêm đề xuất chủ trương khiêm khư cẩn thận (qianxu
jinshen), có thể tạm dịch là “hành động khiêm tốn và thận trọng”;9
đồng thời, ông cũng đề nghị đưa chiến lược liên minh thay thế cho chính sách
không liên kết. Theo ông Diêm, “không liên kết”:
Đồng nghĩa với việc không tạo được những bạn bè gần
gũi, tin cậy nhất. Nếu không có những người bạn này, chúng ta không có ai để
dựa vào những lúc khó khăn. Việc không có đồng minh cũng không hề làm giảm đi
sự lo sợ của những quốc gia khác về sự trỗi dậy của chúng ta. Chính sách không
liên kết đã trở thành rào cản ngăn chúng ta đạt được sự hỗ trợ của hầu hết
những quốc gia ở khu vực Nam Hải. Nước Mỹ đang lo lắng về việc chúng ta từ bỏ
chính sách không liên kết, bởi vì chính sách lược này đã và đang giúp họ cô lập
chúng ta. Nhìn ra cả bốn phía của lãnh thổ Trung Quốc, có thể thấy khu vực bình
an nhất là phía Tây và Tây Bắc, và an ninh ở đó dựa trên liên minh bán
quân sự của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải. Tóm lại, điều mà Trung Quốc đối mặt hôm
nay không phải chỉ là vấn đề điều chỉnh chính sách đối ngoại, mà còn là điều
chỉnh nguyên tắc đối ngoại, đó là có nên điều chỉnh các nguyên tắc “thao quang
dưỡng hối” và không liên kết hay không.10
Chủ đề thảo
luận này được nối tiếp bằng những phân tích cụ thể hơn về sự cần thiết và tính
khả thi của một liên minh Nga – Trung. Bắt đầu với tiền đề cho rằng sự mong
muốn và tin cậy của bất kì liên minh nào cũng đều được tạo nên bởi sự tương
đồng về lợi ích an ninh giữa các thành viên, ông Diêm khẳng định cả Nga và
Trung Quốc không thể có được một lựa chọn chiến lược nào tốt hơn là làm đồng
minh của nhau. Nga vẫn luôn phải chịu đựng áp lực liên tục và ngày càng tăng
của các nước phương Tây kể từ sau kỉ nguyên chiến tranh Lạnh, trong khi Trung
Quốc đang phải đối mặt khả năng bị bao vây bởi những quốc gia đồng minh của Mỹ
ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Vì thế, việc tìm ra những lợi ích chung
giữa hai quốc gia là cần thiết để chống lại sự xâm lấn chiến lược của Mỹ.11
Dù Diêm là
người tranh luận tích cực nhất cho chính sách liên minh, ông không hề đơn độc.
Và mặc cho việc ông thường có quan điểm công kích hoặc lập trường cứng rắn
trong các cuộc tranh luận về chính sách đối nội thì trong vấn đề liên minh này,
Diêm thực chất lại đứng trên quan điểm ôn hòa, cho rằng liên minh Trung –
Nga, trước những áp lực ngày càng tăng cao của tình hình quốc tế, sẽ là một
liên minh phòng thủ ngăn chặn được tình trạng ngày càng xấu đi của môi trường
chiến lược quốc tế.12 Đới Húc (Dai Xu), một đại tá không quân thuộc
lực lượng Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA), có quan điểm cứng rắn
hơn nhiều. Trong một bài báo đăng tải trên tờ Hoàn Cầu Thời Báo tháng 1
năm 2012, ông đã quả quyết rằng Washington hiện đang triển khai một kế hoạch quân
sự nhằm thống trị cả thế giới, lấy khu vực Á – Âu làm chiến trường chính và Nga
– Trung chính là hai đối thủ chủ yếu. Chính vì vậy, ông cho rằng Trung Quốc và
Nga cần phải thiết lập “đại liên minh Á – Âu” để cùng nhau chống lại thói quen
“bắt nạt” những nước yếu và tham vọng tạo nên một đế chế toàn cầu của Mỹ. Điều
này đòi hỏi Trung Quốc phải đánh giá lại nguyên tắc không liên kết của mình,
đồng thời xem xét chính sách đối ngoại hiện chỉ tập trung vào kinh tế và phát
triển hòa bình. Ông Đới đề nghị trong khi thiết lập một thế trận phòng thủ chủ
động trên mặt trận trên biển, Trung Quốc cũng đồng thời nên thực hiện một cuộc
“trường chinh” vào trung tâm Á – Âu để đánh bại chiến lược bao vây của Mỹ.13
Tư duy cực
đoan của ông Đới không được chia sẻ rộng rãi ngay cả trong nội bộ những người
ủng hộ thay đổi chính sách không liên kết. Không những vậy, hầu hết người dân
Trung Quốc còn xem ông Đới như người đang đứng ngoài ranh giới của sự hiểu biết
và độ am hiểu về chính sách, và những lời nói thô lỗ của ông ta khó lòng được
cân nhắc một cách nghiêm túc. Một số đề xuất khác có mức độ đóng góp lớn hơn
lại đến từ những học giả ít tiếng tăm, điển hình là Trương Văn Mộc (Zhang
Wenmu) của trường đại học Hàng không và Vũ trụ Bắc Kinh; chính ông là người đã
nhắc đến sự cần thiết của việc nâng cấp mối quan hệ Nga – Trung từ đối tác
chiến lược lên thành đồng minh chiến lược. Thay vì trở thành liên minh quân sự
để giải quyết xung đột, ông lại nhấn mạnh rằng nhiệm vụ chính của liên minh nên
là bảo vệ lợi ích hợp pháp chung của Nga và Trung Quốc trước sự xâm lấn của Mỹ.
Ông cũng đồng thời chỉ trích những người tin vào chính sách không liên kết đã
hiểu sai bản chất của chính sách đối ngoại Trung Quốc. Theo ông, trọng tâm của
chính sách đối ngoại Trung Quốc kể từ năm 1949 đã là độc lập và tự chủ, chứ
không phải không liên kết. Ông cảnh báo việc gắn mình vĩnh viễn vào chính sách
không liên kết là Trung Quốc đã tự đào hố chôn mình trước khi cuộc xung đột
thực sự bắt đầu.14
La Viện
(Luo Yuan), một cựu thiếu tướng của PLA và cũng là cựu Phó giám đốc của Phòng
Nghiên cứu các Vấn đề Quân sự thuộc Học viện Khoa học Quân sự, người vốn ủng hộ
mạnh mẽ cách tiếp cận cứng rắn hơn trong các chính sách ngoại giao của Trung
Quốc, thực tế lại tỏ ra hoài nghi về chiến lược liên minh chính thức. Ông đề
xuất rằng thay vì phải có đồng minh, Trung Quốc có thể nâng cấp quan hệ với
những quốc gia có ý nghĩa chiến lược (bao gồm cả Nga) lên mức độ hợp tác chiến
lược cao hơn, từ đó Trung Quốc sẽ có được những liên minh trên thực tế (de
facto) mà không lo sợ những cạm bẫy xuất phát từ những liên minh chính
thức.15
Một đề xuất
về bán liên minh như vậy, đặc biệt là trong mối quan hệ giữa Nga và Trung Quốc,
có vẻ như được nhiều người ủng hộ. Điều này đơn giản vì người ta cho rằng bán
liên minh sẽ tạo điều kiện cho Trung Quốc được hưởng lợi nhiều hơn từ những lợi
thế an ninh được tạo nên từ sự liên kết chiến lược, nhưng cũng đồng thời tránh
được những rủi ro, tính bị động và hệ lụy phức tạp mà một liên minh chính thức
có thể đem đến.16 Mô hình bán liên minh tương đối ít tốn kém, linh
hoạt và tiện lợi nhưng lại không làm mất đi tính độc lập về đối ngoại vốn được
ưa chuộng ở Trung Quốc. Cụ thể, một mối quan hệ bán liên minh Trung – Nga, với
khả năng định hướng phòng thủ đầy hứa hẹn, được đánh giá có tiềm năng để phát triển
thành một mẫu hình quan hệ giữa các cường quốc. Theo Vũ Trịnh Lương (Yu
Zhengliang), một mối quan hệ bán liên minh Trung – Nga không phải để thách thức
hay thay thế sự độc tôn của Mỹ; nó chỉ là một phản ứng chiến lược đối với tình
hình đang leo thang như hiện nay, nhằm có được một mối quan hệ cân bằng với
phương Tây và bảo vệ lợi ích chiến lược của Trung Quốc.17 Những đặc
tính bên trong của mô hình bán liên minh phần nào giải thích được tại sao nó
lại thuyết phục được nhiều nhà phân tích đang lo ngại về việc từ bỏ một cách
quá vội vàng những chính sách ngoại giao lâu nay.
Một tiếng
nói quan trọng khác trong cuộc tranh luận này thuộc về Đường Thế Bình (Tang
Shiping) của trường đại học Phúc Đán. Ông không ủng hộ một chính sách liên minh
nào cụ thể, mà thay vào đó đề nghị Trung Quốc cân nhắc lại vai trò của đồng
minh trong những bài học quá khứ. Ông Đường chỉ trích quyết định từ chối liên
minh của Trung Quốc là một hành động tự lừa dối; ông cũng đồng thời cho rằng
chính sách này đã đưa Trung Quốc vào thế bị các quốc gia khác chế nhạo bởi sự
không nhất quán khi nói về tầm quan trọng của đồng minh trong suốt chiều dài
lịch sử ngoại giao. Ông lập luận rằng,việc xây dựng liên minh không nhất thiết
phải là dấu hiệu của “tư tưởng Chiến tranh Lạnh” – như cái cách mà chính
phủ vẫn luôn quả quyết, và rằng ngay cả trong lịch sử, Trung Quốc cũng chưa bao
giờ là một quốc gia không liên kết. Ông Đường kết luận, việc chối bỏ vai trò
của liên minh như một chiến lược an ninh đã gây cản trở nghiêm trọng lên tư duy
chiến lược của Trung Quốc. Từ đó, ông hối thúc chính phủ cân nhắc mọi chiến
lược có thể, kể cả có hay không liên quan tới liên minh, nhằm thúc đẩy lợi ích
quốc gia mà không nhất thiết phải phá vỡ nguyên tắc đối ngoại độc lập đề ra năm
1982.18 Quan điểm này của ông đã nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ từ
nhiều học giả khác, trong đó có Thời Ánh Hồng (Shi Yinhong) của Đại học Nhân
dân.19
Áp lực quốc tế, năng lực
được cải thiện và những thất vọng trong nước
Vì sao tư
duy mới của Trung Quốc về liên minh lại nổi lên vào thời điểm này? Câu trả lời
tốt nhất dựa trên chủ nghĩa hiện thực mới: việc xem xét lại các chính sách hiện
hành bị thúc đẩy bởi những thay đổi to lớn trong hệ thống quốc tế mà những ràng
buộc của hệ thống đó đang chi phối sự vận động của Trung Quốc.20
Những ràng buộc này đang ngày càng thắt chặt hơn do sự tăng cường vị thế bá
quyền chiến lược của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Cảm nhận của Trung
Quốc về những áp lực chiến lược từ Hoa Kỳ là lý do thường xuyên được họ sử dụng
để biện minh cho việc thiết lập các liên minh nhằm chống lại hoặc cạnh tranh
với các hệ thống an ninh của Mỹ trong khu vực.
Kenneth
Waltz đã nhìn nhận liên minh là giải pháp cân bằng bên ngoài hữu hiệu, có thể
bao gồm “các động thái nhằm tăng cường và mở rộng liên minh của mình và làm suy
yếu, thu hẹp liên minh của đối thủ”.21 Những nhà phân tích của Trung
Quốc đang xem xét cả 2 khía cạnh của chiến lược này: xây dựng liên minh với Nga
và các quốc gia khác, đồng thời phá hoại hệ thống liên minh Mỹ bằng cách tạo áp
lực lên những đồng minh khu vực của Mỹ, và làm tăng cái giá mà Mỹ phải trả để
đảm bảo những cam kết với đồng minh của mình. Hơn nữa, Trung Quốc hiểu rõ khía
cạnh chính trị liên minh trong chính sách của Trung Quốc với các nước láng
giềng. Trung Quốc tin rằng liên minh với các nước láng giềng có thể giúp tạo sự
tin tưởng chiến lược, từ đó xóa đi những nghi ngờ và củng cố thêm sự hợp tác
chiến lược, đồng thời làm suy yếu đi sức hấp dẫn của Mỹ trong vai trò là người
cung cấp an ninh.22 Ít nhất, xây dựng liên minh với láng giềng cũng
có thể giúp Trung Quốc không bị mất thêm những quốc gia thân thiết vốn đã rất
ít ỏi, điều đã được minh chứng bằng những thay đổi gần đây ở Miến Điện.
Nếu những ý
tưởng trên trở thành hiện thực, sẽ có hai hệ thống liên minh đối lập trên cùng
khu vực châu Á – Thái Bình Dương, và kết quả là một phiên bản Chiến tranh Lạnh
khác có thể xảy ra ngay tại thế kỉ 21 với cuộc đối đầu của Mỹ và Trung Quốc.
Nếu không có gì thay đổi, khu vực này sẽ phải chứng kiến sự hồi sinh của một
thực tiễn không mong muốn. Sự trỗi dậy của Trung Quốc và những động thái quyết
liệt của nước này23 trong những năm gần đây đã gây nên sự phản ứng
mạnh mẽ từ Washington và các nước đồng minh khu vực. Chính điều này khiến Trung
Quốc bàn thảo về việc đáp trả tương thích, tập trung vào việc tái thiết lập các
quan hệ đồng minh từ lịch sử đối ngoại thăng trầm của họ trong vấn đề này.
Người ta có thể lý giải việc này như một ví dụ của tình trạng lưỡng nan về an
ninh đang ngày càng tăng cao giữa Trung Quốc và các nước láng giềng vốn đang
nhận được hỗ trợ chiến lược từ Mỹ. Những quốc gia láng giềng này, trong lúc tìm
kiếm biện pháp thắt chặt an ninh thông qua mở rộng quân sự, đã làm nâng cao sự
e dè lẫn nhau. Chính vì thế, mỗi nước đều không ngừng phát triển năng lực quốc
phòng và cuối cùng thì không bên nào thực sự đạt được tình trạng an ninh tốt
hơn trước đây.24 Người ta có thể diễn giải điều này như là một cuộc
cạnh tranh giữa một quyền lực đang lên (Trung Quốc) và một bá chủ thế giới (Mỹ)
trong việc thiết lập cấu hình tương lai của trật tự khu vực. Nếu Mỹ tiếp tục
“xoay trục” mà không trấn an Trung Quốc, và nếu Trung Quốc thấy cần thiết phải
xây dựng chính sách liên minh, thì kết quả tồi tệ nhất có thể là một cuộc đấu
tranh giành quyền thống trị chiến lược ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Tuy vậy, áp
lực về trật tự khu vực không phải là nguyên nhân duy nhất dẫn đến tư tưởng liên
minh mới của Trung Quốc, hoặc nói cách khác là nó không nhất thiết phải dẫn đến
tư tưởng này. Nhìn lại lịch sử một chút sẽ làm rõ hơn điều này. Sau thập niên
1980, khi liên minh không còn chiếm vai trò quan trọng trong chính sách đối
ngoại của Trung Quốc, đã có ít nhất hai lần nó có thể được hồi sinh. Từ 1989
đến 1992, việc phương Tây cô lập ngoại giao và ban hành lệnh trừng phạt Trung
Quốc sau sự kiện Thiên An Môn, cùng với sự thay đổi trật tự địa chính trị thế
giới sau Chiến tranh Lạnh đã đặt Trung Quốc trước những quyết định ngoại giao
khó khăn. Giới chức lãnh đạo thảo luận về những tình hình thực tế và cách giải
quyết, nhưng ý tưởng hình thành một liên minh chống Mỹ, với sự tham gia của
nước Nga non trẻ, đã không nhận được nhiều quan tâm. Gần 10 năm sau đó, năm
1999, một cuộc tranh luận nổ ra sau khi NATO đánh bom Đại sứ quán Trung Quốc ở
Belgrade trong cuộc chiến Kosovo. Lần này, cuộc tranh cãi không chỉ diễn ra
trong nội bộ giới lãnh đạo Bắc Kinh, mà còn diễn ra sôi nổi giữa những nhà phân
tích không thuộc chính phủ. Tuy nhiên, tương tự như trước, tư tưởng liên minh
đã hầu như không gây được sự chú ý nào.25
Việc những
áp lực trong quá khứ khá tương tự như ngày nay, nhưng lại không đem đến sự thay
đổi trong tư duy về liên minh như bây giờ đã cho thấy áp lực chỉ là một phần
nguyên nhân. Phần còn lại chính là do sự tăng cường vị thế quyền lực của Trung
Quốc, cũng như những thay đổi trong tranh luận nội bộ về vấn đề ngoại giao. Khi
nào một đất nước muốn liên minh với nước khác? Lý thuyết cân bằng quyền lực
theo chủ nghĩa hiện thực mới cho rằng đó là khi những quốc gia còn lại muốn tạo
nên vị thế cân bằng với quốc gia quyền lực nhất trong hệ thống.26 Có
lẽ, khoảng cách quyền lực càng lớn chừng nào thì các quốc gia yếu lại càng có
xu hướng muốn tạo được sự cân bằng chừng đó, trừ khi quốc gia thống trị kia quá
vượt trội đến nỗi sự cân bằng thông thường không thể hoạt động được.27 Mặt
khác, thuyết cân bằng lại mối đe dọa chỉ ra rằng các quốc gia thường liên
kết chống lại quốc gia có mức độ đe dọa cao hơn, với mức độ đe dọa được xác
định bởi tổng hợp những yếu tố như nguồn lực sức mạnh, sự gần kề về địa lý, khả
năng gây ảnh hưởng và những chính sách cho thấy khả năng gây nguy hiểm.28
Trường hợp
của Trung Quốc, tuy thế, lại đặt ra thách đố cho cả hai lý thuyết. Nếu thuyết
cân bằng quyền lực là đúng, thì xu hướng cân bằng quyền lực với Mỹ đáng lẽ phải
dần giảm bớt sau thời kì Chiến tranh Lạnh, vì Trung Quốc đã và đang dần bắt kịp
với Mỹ về mức độ phát triển. Thế nhưng những tranh cãi về liên minh lại bùng
lên vào thời điểm Trung Quốc đạt được vị trí thứ hai thế giới về kinh tế, chứ
không phải lúc quốc gia này bị bỏ xa phía sau. Vì vậy, khi các nhà phân tích
như Diêm Học Thông nói rằng Trung Quốc hiện gần như ở cùng cấp độ quyền lực với
Mỹ và đang tạo nên một hệ thống hai cực mới, ông đang muốn nhắc đến sự cân bằng
quyền lực; mặc dù, nếu nhìn từ góc độ của quyền lực tương đối thì Trung Quốc
lúc này ít có nhu cầu cân bằng quyền lực hơn so với giai đoạn sau Chiến tranh
Lạnh. Mặt khác, nếu thuyết cân bằng lại mối đe dọa là đúng, thì những tranh
luận về liên minh lẽ ra phải xuất hiện nhiều lần từ sau khi Chiến tranh Lạnh
kết thúc. Và chắc chắn một điều là những tranh cãi này đáng lẽ không thể nào
căng thẳng hơn những thời điểm như năm 1999, khi mà máy bay Mỹ đã thực sự đánh
bom đại sứ quán Trung Quốc.
Một nguyên
nhân khác cho việc xuất hiện nhu cầu liên minh khi Trung Quốc mạnh lên là sự
thông hiểu đặc biệt của nước này về chính trị liên minh. Theo đó, Trung Quốc
cần phải xây dựng các liên minh khi sức mạnh của quốc gia này bằng hoặc mạnh
hơn so với các đối tác liên minh; và khi Trung Quốc không quá thua kém so với
quốc gia mà họ muốn cân bằng quyền lực. Các nhà phân tích Trung Quốc đã nhận thức
được rằng trong những liên minh trước đây với Liên Xô và Mỹ, Trung Quốc, với tư
cách là bên yếu hơn, luôn gặp bất lợi hơn, đặc biệt là trong mối quan hệ với
Liên Xô. Họ do đó muốn đảo ngược sự bất đối xứng này trong những liên minh
tương lai, với Trung Quốc ở phía mạnh hơn, hoặc ít nhất là cân bằng. Nhiều
người cho rằng việc thiết lập liên minh với Nga sẽ không tạo ra bất kì rủi ro
nào cho Trung Quốc, vì sức mạnh của họ giờ đây đã ngang ngửa và rất có thể sẽ
mạnh hơn Nga trong tương lai.29 (Điều này sẽ còn đúng hơn nữa khi
xét các mối liên minh khác, với các quốc gia yếu hơn). Những nhà phân tích cũng
tin rằng khả năng hiện nay của Trung Quốc sẽ biến liên minh thành một chiến
lược hiệu quả và quan trọng giúp họ cân bằng quyền lực với Mỹ, chứ không như
thời điểm đầu những năm 1990, khi cân bằng bên ngoài không giúp gì nhiều cho
Trung Quốc vì sự yếu kém về vật lực của họ. Dưới góc nhìn này, tư duy mới về
liên minh được kích thích bởi vị trí quyền lực được củng cố của Trung Quốc sau
ba thập kỉ phát triển chóng mặt về kinh tế. Đối với nhiều nhà phân tích Trung
Quốc, đạt được vị trí thứ hai trong quyền lực quốc tế là ngưỡng giới hạn để cân
bằng bên ngoài bắt đầu phát huy tác dụng, khi họ không quá thua kém nước đứng
đầu – đối thủ để cân bằng quyền lực, và mạnh hơn phần còn lại – những nước có
thể thành đồng minh.
Cuối cùng,
tư tưởng mới về liên minh cũng là một hệ quả của sự thiếu kiên nhẫn, không thỏa
mãn và giận dữ của những nhà phân tích với những chính sách hiện tại. Sự giận
dữ đã không ngừng tăng từ cuối thập niên 1990, một phần do Trung Quốc nới lỏng
kiếm soát những cuộc thảo luận giữa các học giả. Sự vắng mặt của những ý tưởng
liên minh trong giai đoạn 1989-92 có thể được lý giải một phần bởi sự yếu kém
của Trung Quốc. Một nguyên nhân khác quan trọng hơn nhiều là do sự xuất hiện
của một tư tưởng ngoại giao chính thống mới được đặt ra và bảo trợ bởi Đặng
Tiểu Bình, đó là chính sách thao quang dưỡng hối đã được nhắc đến ở phần
trên. Tư tưởng ngoại giao này bao gồm cả nguyên tắc không liên kết, thông qua
việc giấu mình chờ thời, ủng hộ cách tiếp cận thụ động và dè chừng. Chủ trương
ngoại giao này thực sự phát huy tác dụng vào giai đoạn thập niên 1990. Tuy vậy,
ngày nay, tính hữu ích của nó đã bị đặt một dấu hỏi bởi một lượng đông đảo
những nhà phân tích cánh tả và cánh hữu. Phe cấp tiến, vốn ủng hộ quan điểm
liên minh mới, chỉ ra rằng những chính sách ngoại giao cũ thời ông Đặng Tiểu
Bình đã không còn phát huy tác dụng, và thậm chí, nó còn trói buộc chính sách
ngoại giao Trung Quốc trong sự nhu nhược. Một lần nữa, Diêm Học Thông lại chứng
minh vì sao ông là một nhà phê bình nổi tiếng. Ông cho rằng một chính sách đối
ngoại chú trọng phát triển kinh tế quốc gia sẽ trở nên lỗi thời một khi những
lợi ích về an ninh trở thành vấn đề cấp thiết hơn những lợi ích về kinh tế. Và
giải pháp liên minh không chỉ là một sự phản ứng lại tình trạng xấu đi của môi
trường an ninh Trung Quốc, mà nó cũng được ca ngợi là sẽ cứu vãn những thất bại
trong chính sách đối ngoại gần đây của nước này. Cụ thể hơn, ông cho rằng thiết
lập quan hệ đồng minh có thể tăng cường thẩm quyền đạo đức và mức độ khả tín
chiến lược của Trung Quốc, mà việc thiếu những phẩm chất này được coi là những
vấn đề nghiêm trọng trong môi trường quốc tế ngày nay.30 Đối với
Diêm và một số nhà phê bình trực ngôn khác, sự bất mãn với chính sách hiện thời
trở nên sâu sắc hơn bởi chính phủ có vẻ vẫn gắn bó với tư tưởng ngoại giao đã
20 năm tuổi của ông Đặng Tiểu Bình và làm ngơ trước những lời kêu gọi quyết
liệt từ phía những nhà phân tích.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét