Chủ Nhật, 12 tháng 10, 2014

Từ biến cố Hongkong nhìn vào nhà nước Nga – Tàu

      Những tuần qua truyền thông khắp thế giới đổ dồn về Hongkong để theo dõi sát sao cuộc xuống đường biểu tình đấu tranh chống lại màn diễn dân chủ, với kịch bản đảng cử dân bầu có nguồn gốc đạo diễn từ Trung Nam Hải, áp đặt mô hình “dân chủ” xã hội chủ nghĩa, đảng cử dân bầu lên người dân cựu thuộc địa Anh đã quen hít thở, sống trong không khí bầu cử, ứng cử, tranh cử tự do không nằm dưới sự chỉ định, sự lãnh đạo của đảng cộng sản Tàu.
Tưởng cũng nên nhắc lại, Hongkong là tô giới, là nhượng địa “trăm năm” của nhà nước quân chủ Trung Hoa giao cho thực dân Anh cai trị được trao trả lại cho nhà nước Tàu Cộng vào năm 1997 với thỏa thuận, cam kết thực hiện "một quốc gia hai chế độ". Nó có nghĩa là người dân Hongkong được quyền tự trị, được quyền quyết định số phận, nguyện vọng của họ trên mảnh đất cựu thuộc địa này.
Thế nhưng, bản chất độc tài cộng sản không thay đổi, thực chất là không thể thay đổi, sau mười mấy năm thu hồi, sáp nhập vào lục địa Trung Hoa, nhà nước Tàu Cộng trắng trợn vi phạm cam kết, từng bước thực hiện âm mưu nhuộm đỏ Hongkong, tước đi quyền công dân, quyền tự do căn bản của con người mà người dân Hongkong được hưởng dưới sự cai trị của “Vương quốc Anh”.
Việc đầu tiên của bá quyền Trung Nam Hải thực hiện tham vọng nhuộm đỏ Hongkong là sửa đổi luật pháp nhằm hạn chế quyền tự do ngôn luận, tiếp theo là đưa vào chương trình giảng dạy những chuyện hư cấu, thêu dệt, láo lừa về “Mao vĩ đại, đảng thần thánh” nhồi nhét vào đầu thế hệ trẻ Hongkong, biến một xã hội năng động nhiều màu sắc Hongkong trở thành một xã hội thụ động nằm dưới chiếc gậy chỉ huy thô cứng, man rợ của cộng sản lục địa. Việc làm của Tàu Cộng đối với Hongkong giống như các chiêu trò bịp bợm của Việt cộng áp dụng trong các trường học, các chương trình tuyên truyền giáo dục tẩy não các thế hệ thanh niên ở Việt Nam đã gặp sự chống đối quyết liệt của học sinh sinh viên và người dân Hongkong.
Đỉnh điểm của tham vọng nhuộm đỏ Hongkong, tiêu diệt, phá vỡ nền tảng phát triển hài hòa nhân bản, tôn trọng luật pháp, tôn trọng quyền dân sự chính trị, quyền con người của người dân Hongkong là việc Bắc Kinh diễn trò dân chủ, với kế hoạch “luật hóa” âm mưu đảng cử dân bầu qua các tay chân được đảng Tàu Cộng chỉ định, cài cấm trong các cơ quan, tổ chức chính quyền của đặc khu Hongkong. Chính điều đó đã làm cho người dân Hongkong nổi giận tràn xuống đường chiếm đóng trung tâm (Occupy Center) với khẩu hiệu yêu thương và hòa bình (love and Peace) đòi đặc khu trưởng Hongkong từ chức với quyết tâm ngăn chận, chống lại kế hoạch chương trình, sản xuất sản phẩm “đảng cử dân bầu” phi dân chủ của đảng cộng sản Trung Hoa áp đặt lên Hongkong.
Việc học sinh sinh viên xuống đường và vận động người dân cùng xuống đường thực hiện quyền làm chủ của người dân sống trong thể chế chính trị dân chủ, bày tỏ thái độ chống lại âm mưu bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận, âm mưu giáo dục nhồi sọ, âm mưu đảng cử dân bầu... nhằm từng bước nhuộm đỏ Hongkong như một thách thức quyền lực độc tài toàn trị sắt máu, bạo tàn của đảng cộng sản trung Hoa.
Hành động xuống đường đấu tranh của những người trẻ tuổi Hongkong đã khiến cho những người am hiểu bản chất Tàu Cộng cảm thấy lo ngại cho sự an toàn của các lãnh đạo tổ chức biểu tình (Scholarism) họ lo rằng những người thanh niên này chưa đủ bản lãnh, kinh nghiệm để đối đầu với các tên lãnh đạo Tàu Cộng gian trá độc ác, khát máu đồng bào, đồng loại của chúng như đã từng xảy ra trong quá khứ!
Những ngày qua dư luận của giới truyền thông khắp nơi trên thế giới đã bày tỏ sự quan tâm, lo ngại về việc cảnh sát sử dụng dùi cui, hơi cay, nghiệp vụ trấn áp, bắt giữ một số lãnh đạo đoàn biểu tình theo “quy định” của luật pháp Hongkong nhưng lực lượng trấn áp vẫn không ngăn chận được người dân rầm rập xuống đường. Thế nên bộ mặt “trỗi dậy hòa bình” của Tàu cộng đã lộ mặt qua việc “giở trò” sử dụng công an mật vụ giả dạng côn đồ gây sự, tấn công những người biểu tình ôn hòa, giống như an ninh mật vụ Việt cộng đã làm với người dân Việt Nam xuống đường biểu tình chống tàu Cộng xâm lược.
Chính những diễn biến xảy ra từng giờ được loan tải trên hệ thống truyền thông quốc tế, có cả thuận lợi cũng như không thuận lợi cho cuộc biểu tình đấu tranh ở Hong kong. Đã có một số ngòi bút bình luận, nhận định thời sự cho rằng lãnh đạo đảng cộng sản Trung Hoa sẽ không nhượng bộ những yêu cầu cấp bách của người dân Hongkong, là yêu sách đòi đặc khu trưởng Hongkong phải từ chức và tin mới nhất cho biết yêu cầu này đã không được đáp ứng.
Từ hiện thực khách quan không nhượng bộ đó, có ý kiến bi quan cho rằng với lịch sử khát máu vốn có, đảng cộng sản Trung Hoa sẽ không lùi bước và rất có khả năng sẽ diễn ra một cuộc tắm máu sinh viên Hongkong như Bắc Kinh đã làm với sinh viên lục địa ở quảng trường Thiên An Môn của 25 năm về trước (?) Cũng có một số ý kiến không đồng tình với nhận định kịch bản Thiên An Môn sẽ tái diễn ở Hongkong.
Ai cũng thấy Hongkong với Thiên An Môn có những khác biệt nhất định nên không thể so sánh Hongkong với Thiên An Môn và mọi so sách đều không có cơ sở lý luận vững chắc để thuyết phục. Tuy nhiên có một thực tế là hầu hết lãnh đạo của các đảng cộng sản đều gian manh, lắm trò và rất điên. Thế cho nên mọi tiên đoán đều là giả định, khó chính xác với một đảng có nhiều thủ đoạn thâm độc như cộng sản Trung Hoa thì chuyện gì dù có nghịch lý cách mấy cũng đều có thể xảy ra(?)
Nói cho cùng, dù Tàu Cộng có nhượng bộ hay không nhượng bộ, dù có tắm máu hay không tắm máu cuộc biểu tình của học sinh sinh viên Hong kong thì giá trị đấu tranh cho khát vọng tự do, dân chủ không thế lực hung tàn nào có thể dập tắt trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay. Cụ thể là 25 năm trước Tàu Cộng đã tắm máu sinh viên, tắm máu người dân hoa lục, chúng đã nghiền nát khát vọng tự do, dân chủ dưới vòng xích sắt của xe tăng và đạn pháo. Ngày nay cuộc xuống đường đấu tranh cho khát vọng tự do, dân chủ lại tái hiện trên mảnh đất Hongkong, điều đó chứng minh rằng Tàu Cộng không thể dập tắt ngọn lửa tự do, dân chủ âm ỉ cháy trong lòng người dân Trung Hoa nói riêng và của nhân loại nói chung.
Quan sát cuộc xuống đường quy mô đòi quyền lợi chính đáng của người dân Hongkong, không khó để nhận ra, nó là khúc xương khó nuốt cho cộng sản Trung Hoa, dù chúng có sử dụng bạo lực hay không sử dụng bạo lực, đều không giải quyết được tận gốc vấn đề đòi hỏi thực thi tự do, dân chủ của người dân Hongkong. Đấu tranh đòi tự do, dân chủ cho Hongkong sẽ như vết dầu loang chảy tràn vào trong lục địa Trung Hoa, chỉ cần một mồi lửa là làm nổ tung bá quyền Đại Hán ra nhiều mảnh nhỏ và kịch bản sử dụng bạo lực hay không sử dụng bạo lực, sớm hay muộn đều dẫn đến sự cáo chung của chế độ độc tài toàn trị cộng sản Tàu, có thể diễn ra như sau:
Nếu Tàu Cộng không sử dụng bạo lực trấn áp phong trào đấu tranh của học sinh sinh viên Hongkong thì làn sóng đấu tranh cho tự do, dân chủ sẽ lây lan, thổi vào trong lục địa Trung Hoa thách thức độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản. Sự lớn mạnh của phong trào đấu tranh cho tự do, dân chủ bên trong nội địa trung hoa đồng nghĩa với sự suy tàn của độc đảng, độc tài cộng sản và cũng có nghĩa dẫn đến việc kết thúc chế độ. Đó là sự thật hiển nhiên ai cũng nhìn thấy!
Nếu Tàu Cộng sử dụng bạo lực của xe tăng đại pháo dẹp biểu tình như chúng đã làm ở Thiên An Môn hồi 25 năm trước, là vi phạm vào cam kết quốc tế về mô hình “một quốc gia hai chế độ” của Hongkong. Nếu Tàu Cộng manh động sử dụng bạo lực, chắc chắn sẽ gặp phản ứng, bao vây cô lập, trừng phạt kinh tế của thế giới, kể cả việc các nước dân chủ sẽ không tuân thủ, không giữ đúng cam kết với quốc gia đã cố tình vi phạm luật pháp quốc tế để trang bị vũ khí cho các sắc dân Tây tạng, Tân Cương đấu tranh giành độc lập, đòi lại chủ quyền lãnh thổ đã bị Tàu Cộng dùng vũ lực cưỡng chiếm của sắc dân Tây tạng, Tân Cương. Kịch bản trên xảy ra, sẽ đưa nhà nước Đại hán, nằm dưới vỏ bọc cộng sản về đâu?
Nhận xét sơ lược về việc Tàu Cộng sử dụng bạo lực hay không sử dụng bạo lực đối với cuộc biểu tình của sinh viên Hongkong cho chúng ta thấy rằng xu thế dân chủ là xu thế thời đại không thể đảo ngược, mọi vùng vẫy nhằm bảo vệ chế độ, bảo vệ độc quyền của đảng cộng sản là bất khả thi. Ra sức bảo vệ đảng chế độ, nó chỉ kéo dài khổ đau cho người dân nằm dưới ách thống trị độc tài cộng sản chứ chế độ cộng sản không thể trường trị muôn năm như các khẩu hiệu nhằm động viên các cán bộ, đảng viên mê cuồng nhiều thứ của đảng cộng sản Việt Nam.
Thực tế chiêu bài cộng sản và xã hội chủ nghĩa chỉ còn là cái vỏ bao bọc cho tham vọng bành trướng của nhà nước Đại Hán nhằm lường gạt lãnh đạo ngu dốt, tham lam cộng sản Việt Nam và Tàu Cộng sử dụng đảng cộng sản Việt Nam như tay sai, nước Việt Nam như chư hầu, như một tỉnh, quận huyện của Tàu Cộng, phục vụ cho tham vọng thực dân mới của nhà nước Đại Hán. Tham vọng đế quốc, thực dân của Tàu Cộng cả thế giới đều thấy chỉ có lãnh đạo Việt Cộng, các tên tay sai mê cuồng cộng sản vì nhiều ý do giả vờ không thấy và ngoan cố làm tay sai, đưa dân nước vào tròng nô lệ giặc thù phương bắc.
Qua biến cố Hongkong giúp cho thế giới thấy rõ hơn bản chất của cái gọi là trỗi dậy hòa bình của nhà nước Tàu Cộng và cho người dân Việt Nam thấy rõ hơn những biến tướng của cộng sản Trung Hoa. Nó không thể hòa nhập vào dòng sống với những giá trị chung của cộng đồng nhân loại, nó không phải là hình mẫu để xây dựng, phát triển cho Việt Nam làm theo, nó không thể đẩy lùi bất công xã hội, không thể giải quyết được bất đồng, mâu thuẫn xã hội mà Tàu Cộng còn gây ra những xung khắc, xung đột xã hội nghiêm trọng hơn mọi hình thức tổ chức cai trị đã từng hiện diện trong lòng lịch sử nhân loại.
Sự biến tướng của cộng sản Trung Hoa trở thành nhà nước bá quyền Đại Hán không chỉ riêng Tàu Cộng ở phương đông mà ở phương tây còn có cộng sản Liên Xô đang thực hiện tham vọng bá quyền Đại Nga bất chấp luật pháp quốc tế để vẽ lại bản đồ thực dân, đế quốc kiểu mới ở Ukraine...
Từ cuộc đấu tranh của học sinh sinh viên Hongkong nhìn ra thế giới bên ngoài, nhất là hai nước đàn anh Nga – Tàu cựu lãnh đạo phe xã hội chủ nghĩa, chúng ta thấy có thay đổi một số hình thức bề ngoài nhưng bản chất, tư duy bá quyền, nước lớn vẫn không thay đổi mà có phần nguy hiểm hơn cho trật tự an ninh, hòa bình thế giới. Sự nguy hiểm này chỉ sau các tổ chức khủng bố, các nhà nước cực đoan hồi giáo Trung Đông, Bắc Phi.
Quan sát theo dõi tình hình đấu tranh cho tự do, dân chủ còn được gọi là cuộc cách mạng dù của học sinh sinh viên Hongkong để học hỏi những điều phù hợp và có thể ứng dụng trong đấu tranh cho tự do, dân chủ Việt nam. Bên cạnh đó là mở rộng tầm nhìn liên quan đến nhà nước Nga – Tàu hiện tại, để các cá nhân, tổ chức đấu tranh tránh mơ hồ về bản chất của hai nước cựu cộng sản này nhằm rút tỉa kinh nghiệm lẫn tránh phạm phải sai lầm có thể xảy ra trong công cuộc đấu tranh chống “biến tướng” của độc tài toàn trị cộng sản Việt Nam và thiết lập thể chế chính trị dân chủ cho một nước Việt Nam tương lai.

Chủ Nhật, 5 tháng 10, 2014

Quân đội Trung Quốc khoe hàng nóng gì ở Hồng Kông?

Trước làn sóng phản đối chính sách của Bắc Kinh ở Hồng Kông, Quân đội Trung Quốc ngay lập tức khoe kho vũ khí ở đặc khu hành chính này.
Tạp chí Jane’s Defence Weekly đưa tin, từ ngày 29/6 đến 1/7, căn cứ Quân đội Trung Quốc tại Hồng Kông đã mở cửa đón khách khách tham quan và cũng giới thiệu các trang thiết bị khí tài quân sự tối tân được biên chế tại đây.
Trong buổi giới thiệu này, Trung Quốc đã cho người dân Hồng Kông "chiêm ngưỡng" trực thăng tấn công Z-9WA trang bị 2 pháo 23mm ở trên giá treo lần đầu tiên được triển khai tới đặc khu hành chính này. Trước đó, các biến thể đa dụng Z-9B, biến thể chỉ huy - kiểm soát Z-9ZH và Z-9WA trang bị tên lửa chống tăng - rocket đã được nhìn thấy ở vùng lãnh thổ này.
Máy bay trực thăng chiến đấu hạng nhẹ Z-9WA của Quân đội Trung Quốc.
Bên cạnh đó, Quân đội Trung Quốc còn trưng bày một số mẫu súng bộ binh tiêu chuẩn của mình gồm: súng lục Type 11, súng ngắn giảm thanh Type 06 (hay còn gọi là QSW06) và súng trường bắn tỉa hạng nặng Type 10 (hay còn gọi là QBU-10). Hai khẩu súng lục đều có cỡ nòng 5,8mm với hộp tiếp đạn 8 viên và 20 viên. Việc sử dụng đạn cỡ 5,8mm là để đồng bộ với súng trường tiến công Type 95-1 mà binh sĩ Trung Quốc đồn trú tại Hồng Kông sử dụng.
Trong đó, QBU10 là mẫu súng trường bắn tỉa cỡ nòng 12,7mm, có trọng lượng lớn hơn 13kg, chiều dài gần 1,4m. Nó có khả năng bắn chính xác mục tiêu bộ binh địch cách 1.000m và lên tới 1.500m đối với các loại trang thiết bị quân sự như xe tải, xe bọc thép.
Súng trường bắn tỉa QBU10 sử dụng cỡ đạn 12,7mm được giới thiệu hôm 1/7.
Trung Quốc còn giới thiệu hai mẫu tàu hộ tống Type 056 Jiangdao được biên chế ở Hồng Kông là Huệ Châu (596) và Khâm Châu (597) đóng tại căn cứ Stonecutters, sau hơn một năm đưa vào sử dụng. Bên cạnh đó, quân đội nước này vẫn duy trì lớp tàu tên lửa thế hệ cũ lớp Houjian ở đặc khu hành chính này.
Một số phương tiện mới phục vụ cho hậu cần cũng được giới thiệu tại buổi ra mắt lần này như xe tải đặc chủng Đông Phong EQ2102J được sử dụng cho các mục đích hậu cần như nhà bếp di động và máy phát điện.
Đáng chú ý trong buổi giới thiệu trên còn có sự xuất hiện của mẫu xe bọc thép Đông Phong EQ2050 phiên bản dành cho quân y và phòng dịch. EQ2050 luôn được xem như là phiên bản nhái lại mẫu xe bọc thép nổi tiếng Humvee của Quân đội Mỹ.
Phiên bản phòng dịch của xe bọc thép Đông Phong EQ2050.
Trong một động thái gần đây thì Quân đội Trung Quốc ở Hồng Kông cũng tổ chức một đợt diễn tập chống khủng bố với qui mô lớn, cùng với ngày diễn ra các cuộc biểu tình đòi dân chủ của người dân Hồng Kông trước các chính sách ràng buộc quyền tự do bầu cử từ Bắc Kinh.

Thứ Sáu, 19 tháng 9, 2014

Ấn Độ đi nước cờ Biển Đông để chiếu tướng Trung Quốc

media
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và đồng nhiệm Ấn Pranab Mukherjee - REUTERS /Ahmad Masood
Trả lời báo chí vào hôm nay, 18/09/2014, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Ấn Độ xác định rằng cuộc họp thượng đỉnh hôm nay giữa Thủ tướng Ấn với Chủ tịch Trung Quốc tại New Delhi không loại trừ bất kỳ hồ sơ tế nhị nào, « kể cả những vấn đề mới nhất ».
Trong những vấn đề này, chắc chắn có quyết định của Ấn Độ đẩy mạnh hợp tác với Việt Nam trong việc thăm dò và khai thác dầu khí ở Biển Đông, vừa được chính thức hóa vào tuần trước, một quyết định được so sánh với một nước cờ dùng để cảnh cáo Trung Quốc.
Thỏa thuận hợp tác dưới dạng một ý định thư giữa hai tập đoàn dầu khí Nhà nước ONGC Videsh Limited (OVL) và Petro Việt Nam ký kết hôm 15/09/2014 nhân chuyến công du Việt Nam của Tổng thống Pranab Mukherjee đã chính thức hóa việc Ấn Độ mở rộng hoạt động thăm dò dầu và khí đốt ngoài khơi Việt Nam, cụ thể là tại Biển Đông.
Theo báo chí Ấn Độ, vào tháng 11 năm 2013, Việt Nam đã đề nghị cho Ấn Độ quyền khai thác 5 lô mới tại Biển Đông – mang ký hiệu 17, 41, 43, 10 và 11-1 và 102 & 106/10 – đều nằm ngoài các vùng bị Trung Quốc tranh chấp. Trong số năm lô này, ONGC Videsh sẽ thăm dò từ 2 đến 3 lô.
Điểm đáng chú ý là quyết định tăng cường hợp tác Ấn-Việt tại Biển Đông lần này đã được loan báo một cách công khai và rộng rãi, trái với thái độ tương đối kín đáo trong những lần trước đây. Tín hiệu đầu tiên chẳng hạn đã được tung ra vài ngày trước lúc Ngoại trưởng Ấn Độ ghé Việt Nam vào cuối tháng 8, khi hai nước xác nhận là hợp đồng thăm dò của ONGC tại một lô dầu tại một vùng bị Trung Quốc tranh chấp được triển hạn thêm một năm.
Theo giới quan sát, trái với chính quyền tiền nhiệm tại New Delhi, đương kim Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi và chính phủ của ông có một quyết tâm mạnh mẽ hơn trong việc không để cho Bắc Kinh lấn lướt, mặc dù vẫn cần đến Trung Quốc về mặt kinh tế.
Khi công khai hóa quyết định dấn thân sâu hơn vào Biển Đông, một khu vực mà Trung Quốc cho là vùng ảnh hưởng của họ, chính quyền Modi như muốn nhắn nhủ chế độ Bắc Kinh là tình hình đã thay đổi, và Trung Quốc không thể tự tung tự tác như họ thường làm.
Lời nhắn nhủ này lại càng rõ ràng và kiên quyết hơn nữa khi việc ký kết thỏa thuận tăng cường hợp tác dầu khí với Việt Nam tại vùng Biển Đông được thực hiện vài ngày trước chuyến công du Ấn Độ của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.
Theo giới phân tích, việc New Delhi tiến sâu hơn vào Biển Đông nằm trong kế sách đối phó lại chiến lược vây hãm Ấn Độ mà Bắc Kinh đang đẩy mạnh. Ngoài việc không ngần ngại củng cố sự hiện diện tại vùng biên giới đang tranh chấp với New Delhi, trong những năm gần đây, Bắc Kinh đã vung tiền chiêu dụ các quốc gia láng giềng của Ấn Độ như Pakistan – đối thủ trực tiếp của New Delhi - hoặc Nepal, Sri Lanka, Maldives, ba nước nằm trong vùng ảnh hưởng của Ấn.
Việc dấn thân sâu hơn vào khu vực sát cạnh Trung Quốc như Biển Đông, cũng như việc tăng cường quan hệ quốc phòng với Việt Nam do đó mang ý nghĩa chiến lược rất quan trọng, cho phép Ấn Độ hiện diện thường xuyên hơn và một cách chính đáng trong vùng.
Bên cạnh đó, chính quyền Ấn Độ hiện nay cũng mở rộng tầm với của mình đến một nước láng giềng khác của Trung Quốc là Nhật Bản, với kết quả rõ nét nhất là mới đây, hai Thủ tướng Modi và Abe đã đồng ý nâng cao quan hệ quốc phòng và chiến lược.
Tại Nhật Bản, thông điệp của Ấn Độ đối với Trung Quốc đã bộc lộ rõ ràng trong phát biểu « Một số nền dân chủ như Ấn Độ và Nhật Bản tin tưởng vào hướng phát triển theo con đường của hòa bình, của Đức Phật. Nhưng vẫn còn một số quốc gia khác vẫn đang theo đuổi các chính sách bành trướng của thế kỷ 18, lấn chiếm đất đai và vùng biển của các nước khác. »

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2014

Phiến quân IS có thể lan sang Trung Quốc, Đông Nam Á

        Sức ảnh hưởng của Nhà nước Hồi giáo (IS) có thể lan sang Đông Nam Á và Trung Quốc bất chấp sự phản đối mạnh mẽ của các nước này.
       Theo một báo báo đăng trên tờ New Strait Times (của Singapore), giới chức trách Malaysia đã xác định được 4 tổ chức khủng bố mới mà có cùng chí hướng giống với IS. Có thể cuối cùng, nhóm này sẽ tham gia các lực lượng để chiếm các phần đất của Thái Lan, Malaysia, Philippines và Indonesia để thành lập một đế chế Hồi giáo độc lập cai quản cả một vùng Đông Nam Á.
         Bốn tổ chức, được xác định bởi các từ viết tắt BKAW, BAJ, Dimzia và ADI, được cho là có liên kết chặt chẽ với các nhóm tương tự hoạt động ở khu vực Đông Nam Á cũng như Nhà nước Hồi giáo (IS) và nhóm khủng bố Abu Sayyaf.
 Các chiến binh Hồi giáo IS.
         Tuyên bố trên đưa ra giữa lúc giới chức trách Malaysia thông báo, họ đã xác định được danh tính của một gia đình gồm 4 người ở nước này tham gia vào cuộc “thập tự chinh” của tổ chức IS đang lan truyền ở IraqSyria. Ông bố và người con trai trong gia đình này được cho là tham gia cùng hàng ngũ chiến đấu với các chiến binh thánh chiến, còn bà mẹ đảm trách việc nấu nướng cho họ. Gia đình này được cho là nằm một trong số 30 người Malaysia tham chiến ở Trung Đông dưới cái bóng của lực lượng IS.
           Bài báo trên còn đề cập tới việc IS đang tích cực chiêu mộ các thành viên mới, nhất là giới trẻ, ở Malaysia thông qua mạng xã hội Facebook cùng các nhóm diễn đàn về tôn giáo trên mạng khác.
Thủ tướng Malaysia Najib Razak phát biểu rằng, quốc gia của ông, nơi người Hồi giáo chiếm đa số, đang hợp tác với tổ chức quốc tế để chống lại tổ chức chiến binh này và sự tác động của nó.
Bức ảnh do Bộ Quốc phòng Iraq công bố trên Facebook cho thấy một công dân được cho là người Trung Quốc tham gia IS. Anh ta bị các binh sĩ Iraw bắt giữ trong một đợt công kích.
         Hồi đầu tháng này, Bộ Quốc phòng Iraq đăng tải lên Facebook hai bức ảnh cho thấy một người đàn ông bị đánh đập với một dòng đề tựa là anh ta là thành viên IS gốc Trung Quốc. Nếu được chứng thực, các bức ảnh sẽ là bằng chứng đầu tiên của việc các công dân mang quốc tịch Trung Quốc tham gia vào nhóm IS.
          Đặc phái viên Trung Quốc tại Trung Đông, Wu Sike, cũng đã tuyên bố rằng, IS có thể đã tuyển mộ được khoảng 100 công dân nước này, hầu hết đầu là người dân tộc Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, một khu vực tự trị bất ổn nằm ở phía tây bắc Trung Quốc.

Thứ Năm, 21 tháng 8, 2014

Dải Gaza - Cuộc xung đột không hồi kết

         Qua một tuần bùng nổ các cuộc xung đột giữa Israel và Palestine trên Dải Gaza, tình trạng đẫm máu và con số thương vong đã ngừng lại nhờ một lệnh ngừng bắn được Ai Cập đề xuất. Tuy nhiên, một lệnh ngừng bắn mong manh và còn nhiều bất đồng về lợi ích liệu có thể cứu vãn một cuộc xung đột có chiều dài lịch sử hàng thập kỷ?
 
Xe tăng Israel chuẩn bị triển khai gần biên giới Dải Gaza
 
Dải Gaza là một vùng đất nhỏ nằm giữa Israel và Ai Cập. Đây là khu vực từng chứng kiến nhiều cuộc chiến tranh và luôn chìm trong những bất ổn trong suốt nửa thập kỷ qua. Nguyên nhân đằng sau những xung đột ở Dải Gaza luôn thay đổi theo thời gian và sự lãnh đạo của từng Chính phủ trong từng thời kỳ.
 
Trong thời gian trở lại đây, Dải Gaza luôn là một trong những chiến trường đẫm máu nhất với con số thương vong rất lớn. Từ nhiều thập kỷ qua, vùng đất bị nguyền rủa này luôn phải hứng chịu nhiều cuộc xâm lược, công kích và ngày càng có xu hướng vượt tầm kiểm soát của thế giới. Ngày nay, Dải Gaza đã trở thành một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng bất ổn tại Trung Đông, cùng hàng loạt các phong trào biểu tình trên khắp thế giới.
 
Lịch sử Dải Gaza
Căn nguyên của cuộc xung đột ở Dải Gaza bắt đầu từ khi người Do Thái và người Ả Rập cùng tuyên bố chủ quyền của mình đối với một vùng lãnh thổ. Trong những năm 1880, cộng đồng người Do Thái bắt đầu cuộc hành trình ra toàn thế giới với ước muốn tìm lại mảnh đất nguồn cội của mình. Cũng kể từ đó, cộng đồng Cơ đốc giáo La Mã tìm cách tẩy chay người Do Thái và đẩy họ tới chỗ không còn nơi sinh sống. Người Do Thái sau đó đã nỗ lực tự họ thành lập ra nhà nước Palestine và hành động này cho ra đời chủ nghĩa phục quốc Do Thái. Trong khoảng thời gian này, Palestine chủ yếu tập trung cộng đồng người Ả Rập, vốn chẳng mấy hài lòng với việc người Do Thái định cư ở vùng đất của họ và gọi nó là mảnh đất quê hương của mình. Trong khoảng 1917 đến 1947, mảnh đất này là thuộc địa của Anh và bởi vậy khá yên bình. Năm 1947, người Anh trao trả vấn đề Palestine cho Liên Hợp Quốc, và trong tình cảnh đó, việc phân chia Palestine là lựa chọn duy nhất đối với tổ chức này. Sau quá trình chia tách, nhà nước độc lập Israel ra đời. Tuy nhiên, việc phân tách đường biên do Liên Hợp Quốc khởi tạo đã không thể làm hài lòng cả đôi bên, và từ đó liên tiếp bùng nổ các cuộc xung đột đẫm máu giữa hai bên.
 
Nhóm Hồi giáo vũ trang Hamas
trong một buổi diễu binh tại Rafah, phía Nam Gaza
 
Vùng đất bị nguyền rủa
Năm 2006, cả Dải Gaza và khu vực bờ Tây sông Jordan đều tổ chức bầu cử. Đảng Hamas – vốn có tư tưởng chống Israel và không công nhận sự tồn tại của quốc gia này đã giành chiến thắng. Một cuộc nội chiến khốc liệt đã nổ ra giữa một bên là Hamas và đảng cầm quyền trước đây – Fatah với kết quả dẫn tới sự  tuyệt diệt của Fatah trên Dải Gaza. Kể từ tháng 6-2007, Hamas chính thức nắm quyền lực ở Dải Gaza, tiếp tục giọng điệu và các hành động hòng tiêu diệt nhà nước Israel; mở ra một chương mới trong lịch sử tranh chấp với hàng loạt các cuộc chiến nổ ra giữa Israel và Palestine.
 
Giữa năm 2007, lực lượng vũ trang Palestine đã bắn hơn 200 quả rocket Qassam vào thị trấn Sderot của Israel. Để đáp trả, Israel đã tổ chức không kích bằng tên lửa và bom nhằm vào các mục tiêu chính trị và quân sự của Palestine. Tháng 2-1008, lực lượng bộ binh Israel một lần nữa đổ bộ vào Dải Gaza, sát hại gần 100 binh sĩ nhóm Hamas chỉ trong một ngày. Ngoài ra, Israel cũng cắt nguồn cung cấp điện, nhiên liệu và các nhu yếu phẩm khác tới Dải Gaza, nhằm làm suy yếu sức mạnh của Hamas. Bất chấp nỗ lực của toàn thế giới trong việc hàn gắn rạn nứt giữa hai nhà nước, Hamas tiếp tục phóng rocket vào lãnh thổ Israel. Ngày 19-1-2008, Ai Cập với tư cách trung gian hòa giải đã đứng ra khởi tạo một lệnh ngừng bắn giữa hai nhân tố chiến tranh và khu vực được chứng kiến một khoảng thời gian hòa bình ngắn ngủi bên cạnh một số vụ nã rocket đơn lẻ của Hamas. Ngày 4-11-2008, quân đội Israel tổ chức đột kích một hầm ngầm của nhóm Hamas – vốn được xây dựng để bắt cóc lính gác Israel dọc biên giới. Lệnh ngừng bắn của Ai Cập chỉ tồn tại trong thời gian ngắn ngủi khi vào ngày 20-12 cùng năm đó, Hamas chính thức tuyên bố phá bỏ lệnh ngừng bắn dự kiến duy trì trong 6 tháng.
 
Ngày 27-12-2008, quân đội Israel tổ chức một cuộc tổng không kích nhằm vào các mục tiêu chính trị - quân sự của Hamas ở Dải Gaza, khiến gần 300 người Palestine thiệt mạng ngay trong ngày đầu tiên. Cuộc chiến tiếp diễn bằng một cuộc đổ bộ toàn diện của lực lượng bộ binh Israel vào biên giới Dải Gaza và Hamas tiếp tục đáp trả bằng rocket Qassam cùng một số chủng tên lửa tầm xa có khả năng với tới một số thành phố của Israel như Ashkelon và Ashdod.
 
Ngày 3-1-2009, hàng nghìn lính Israel được chia làm 3 trung đoàn, được hỗ trợ bởi xe tăng và trực thăng, một lần nữa tấn công Dải Gaza. Chỉ trong giờ đầu tiên nổ ra xung đột, quân đội Israel đã báo cáo có 30 trường hợp bị thương và "vài chục” người thiệt mạng bên phía Hamas. Đây là cuộc chiến đầu tiên mà lực lượng hải quân Israel xuất hiện. Kết thúc ngày đầu tiên của cuộc đổ bộ, Israel tuyên bố rằng quân đội của họ đã chia tách và bao vây thành phố chính của Dải Gaza. Nhiều chiến dịch lớn của Israel tại các thị trấn phía Bắc Dải Gaza như Beit Lahiya, Beit Hanoun và Jabaliya cũng được báo cáo.
 
Ngày 6-1-2009, Israel châm ngòi hàng loạt đạn pháo nhằm thủ tiêu cái mà họ gọi là các bệ phóng rocket của Hamas. Một trong những trái đạn pháo của Israel đã đáp trúng một trường học của Liên Hợp Quốc ở Palestine, khiến ít nhất 40 thường dân thiệt mạng. Bị cộng đồng quốc tế lên án, Israel biện minh rằng họ chỉ tấn công vào các điểm đặt bệ phóng tên lửa của Hamas, và kể từ đây sức ép của các lãnh đạo toàn thế giới đã đặt Israel trong tầm quan sát. Bất chấp những ý kiến phản đối, lực lượng vũ trang Israel tiếp tục đẩy mạnh các cuộc công kích vào một số khu vực tập trung dân cư phía nam thành phố Gaza trong ngày 11-1, gây nên một cuộc chiến căng thẳng, giành giật từng ngôi nhà, từng con phố tại khu vực này.
 
Ngày 17-1, Israel tuyên bố một lệnh ngừng bắn đơn phương, quyết định ngừng toàn bộ các chiến dịch không kích mà không cần ký kết bất kỳ thỏa thuận nào với Hamas. Ngày tiếp theo, Hamas, nhóm Hồi giáo vũ trang Jihad và nhiều nhóm vũ trang Palestine cũng tuyên bố ngừng phóng rocket vào lãnh thổ Israel trong vòng một tuần lễ với điều kiện Israel rút khỏi Dải Gaza ngay trong tuần. Chấp thuận yêu cầu, quân đội Israel rút khỏi Gaza và bắt đầu nới lỏng lệnh cấm vận đối với các mặt hàng thiết yếu cung cấp cho Dải Gaza.
 
Nhiều thường dân Palestine thiệt mạng
sau một cuộc không kích của Israel
 
Chiến sự không hồi kết
Chiến sự giữa Israel và Palestine bắt đầu bùng nổ từ hôm 14-11-2012, sau khi đợt không kích của Israel nhằm trả đũa các đợt nã rocket đơn lẻ từ bên kia biên giới, khiến lãnh đạo quân sự nhóm Hamas thiệt mạng. Mục tiêu mà Israel từng tuyên bố công khai là làm suy yếu sức mạnh quân sự của Gaza và buộc nhóm Hamas ngừng việc nã rocket qua biên giới hai nước.
 
Xung đột lại tiếp tục leo thang khi nhóm Hamas bắn hàng chục quả đạn pháo vào Israel làm ít nhất 3 người thiệt mạng, để trả đũa vụ không kích. Đây là tổn hại nhân mạng đầu tiên về phía Israel sau khi nước này tiến hành nhiều đợt không kích trong và xung quanh thành phố Gaza do Hamas kiểm soát trong đợt bạo lực nghiêm trọng nhất kể từ sau cuộc chiến cách đây 4 năm. Để trả đũa, Israel đã 20 lần tấn công bằng máy bay, xe tăng và tàu hải quân nhắm vào Dải Gaza trong ngày 15-11 làm hơn 13 người Palestine thiệt mạng, gồm chỉ huy quân sự Ahmed Said Khali al-Jaban của Hamas và hơn 100 người bị thương.
 
Dưới nỗ lực của trung gian hòa giải Ai Cập, Liên Hợp Quốc và một số quốc gia khác, giới chức Israel và Nhóm Hamas đã chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán. Đến ngày 22-11, thỏa thuận ngừng bắn giữa Israel và nhóm Hamas chính thức có hiệu lực, tạm thời chấm dứt hơn một tuần xung đột đẫm máu ở Dải Gaza, đồng thời tháo ngòi cho một cuộc chiến tranh tổng lực trên bộ do Israel tổ chức. Dư luận cho rằng, việc đạt được Thỏa thuận ngừng bắn giữa Israel và các phong trào vũ trang Palestine tại Dải Gaza mới chỉ là thành công bước đầu. Việc duy trì thỏa thuận mới là điều quan trọng nhất, bởi lẽ ngay sau khi thỏa thuận ngừng bắn được công bố, 12 quả rocket từ Dải Gaza đã bắn sang Israel nhưng không gây thương vong hay thiệt hại nào. Thủ tướng Israel cảnh báo nếu thỏa thuận thất bại, Israel sẽ cân nhắc "hành động quân sự dữ dội hơn” nhằm vào Dải Gaza.
 
* Rất khó có thể phân tích ai là người chịu trách nhiệm cho cuộc xung đột ở Dải Gaza. Một số nhà phân tích từng đổ lỗi cho Mỹ vì không công nhận nhóm Hamas sau cuộc bầu cử dân chủ ở Palestine. Một số khác buộc tội Israel đã đánh bom các căn cứ ngầm của Palestine trong khi lệnh ngừng bắn giữa hai bên đang có hiệu lực. Số còn lại cáo buộc Hamas vì có hành động khiêu khích bằng rocket qua biên giới.
 
* Theo ước tính của Liên Hợp Quốc, cuộc xâm lược của Israel trên Dải Gaza đã khiến 524 người Palestine thiệt mạng và khoảng 2.600 người bị thương, đa số là thành viên của nhóm Hamas. Ngày 27-12-2008, Israel cũng đưa ra con số thương vong, trong đó có 1 lính, 3 thường dân thiệt mạng và 30 người khác bị thương do các đợt nã rocket của Hamas. Mặc dù được coi là chiến thắng trong cuộc chiến, Israel vẫn chịu vô số lời chỉ trích của cộng đồng quốc tế trên toàn thế giới. Cho tới nay, Gaza vẫn là một vùng đất bị nguyền rủa với những cuộc xung đột tưởng chừng không bao giờ đi đến hồi kết.

Thứ Hai, 18 tháng 8, 2014

10 trận không chiến lớn nhất trong lịch sử quân sự

         Không chiến đã trở thành một yếu tố quan trọng trong chiến tranh hiện đại kể từ đầu những năm 1900 và đã tạo ra một số câu chuyện thú vị nhất trong lịch sử quân sự thế giới.
10 trận không chiến lớn nhất trong lịch sử quân sự  - Ảnh 1

Các cuộc không chiến thường kéo dài nhiều giờ, nhiều ngày và với sự tham gia của hàng nghìn máy bay chiến đấu.

           Trong suốt thế kỷ 20, khi các quân đội truyền thống giao tranh với nhau và trước khi sức mạnh không quân của Mỹ có sự vượt trội, các cuộc không chiến thường kéo dài nhiều giờ, nhiều ngày và với sự tham gia của hàng nghìn máy bay chiến đấu. Những trận chiến này thường đóng vai trò quyết định đến kết cục chiến tranh.
Đại học Norwich (Anh) mới đây đã phát hành một tài liệu (ảnh đồ họa) về các trận không chiến lớn nhất và dài nhất trong lịch sử. Hầu hết trong số đó là diễn ra trong giai đoạn nửa đầu của thế kỷ 20 và trên một quy mô lớn, thậm chí là khó hiểu. Dưới đây là 10 trận không chiến trong lịch sử đáng chú ý nhất:
1. Trận Vòng cung Kursk
          Trận không chiến quy mô lớn này được coi là hao tiền tốn của nhất trong các trận chiến trên không mà cuối cùng đã kết thúc với thất bại thuộc về người Đức.
Để chuẩn bị cho cuộc chiến này, Đức đã huy động 1/3 tổng sức mạnh quân sự của mình, sử dụng 2.792 chiếc máy bay chiến đấu đối đầu với 2.000 máy bay Liên Xô. Tổng cộng 500.000 người đã chết, bị thương hoặc mất tích sau cuộc chiến (diễn ra từ ngày 4/7-23/8/1943).
2. Trận chiến ở Anh
           Trận giao tranh diễn ra vào ngày 25/8/1940. Để chuẩn bị cho trận đánh lớn này, quân Đức tập trung hơn 2.000 máy bay chiến đấu sẵn sàng để tấn công 675 máy bay của Anh. Không quân Đức gồm có 3 phi đội với 2.800 máy bay chiến đấu, 2/3 trong số này là máy bay ném bom.
Các phi công của phía Đức đều có kinh nghiệm và sự tự tin, đến nỗi chỉ huy của họ dự đoán rằng chiến thắng sẽ đến chỉ trong vài ngày. Tuy nhiên, chiến thắng cuối cùng lại thuộc về người Anh.
3. Không chiến tại ST. Mihiel (Pháp)
          Cuộc chiến diễn ra từ ngày 12-16/12/1918. Trong trận này, quân Đồng minh đông gấp 3 lần quân Đức (500 máy bay Đức và 1.476 máy bay quân đồng minh), 60% trong số này là của Pháp, Anh và Italy. Lực lượng Đồng minh đã chiến đấu chống lại quân Đức trong một trận không chiến đầu tiên và lớn nhất mọi thời đại.
Ngày đầu của cuộc chiến, máy bay Mỹ đã xuất kích 390 lần, thả gần 6.500 tấn bom. Ngày cuối của cuộc chiến, máy bay Mỹ xuất kích 2.469 lần, không chiến 145 trận và thả khoảng 20.000 tấn bom. Kết quả cuối cùng, Mỹ và đồng minh giành chiến thắng.
4. Chiến dịch Mole Cricket 19
           Chiến dịch diễn ra ở Beqaa Valley, Liban ngày 9/6/1982. Khoảng 100 máy bay chiến đấu tham gia trận chiến này và được cho là một trong những trận không chiến lớn nhất kể từ khi kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ 2.
          Trong một chiến dịch tấn công đáng kinh ngạc, 90 máy bay Israel đã phá hủy 80 trong tổng số 100 máy bay chiến đấu của Syria mà không bị tổn thất nào.
Ngoài ra, chỉ trong vòng 2 giờ, Không quân Israel đã phá hủy tổng cộng 19 bệ phóng tên lửa đất đối không của Syria mà không bị thiệt hại một chiếc máy bay nào. Trận chiến kết thúc với sự đề xuất về một lệnh ngừng bắn của Mỹ.
5. Trận chiến trên biển Philippines
           700 máy bay Nhật đã chiến đấu chống lại 1.000 máy bay Mỹ trong một trong những trận đánh mang tính quyết định nhất của cuộc Chiến tranh Thế giới thứ 2.
Diễn ra từ ngày 19-20/1944, nhưng trong ngày đầu, Nhật đã thiệt hại 300 trong tổng số 430 máy bay. Cuối cùng, Mỹ giành chiến thắng với thiệt hại chỉ 40 máy bay.
6. Trận không chiến El Mansoura
           Ngày 14/10/1973, Không quân Israel đã thực hiện một cuộc tấn công từ trên không quy mô lớn chống lại Không quân của Ai Cập ở El Mansoura (Ai Cập). Trận không chiến này xuất hiện trong cuộc chiến Yom Kippur.
          Trận chiến Israel - Ai Cập chỉ kéo dài hơn 1 giờ, nhưng nó là trận đánh trên không dài nhất giữa các máy bay phản lực.
Israel huy động khoảng 120-164 máy bay đối đầu với 62 máy bay của Ai Cập. Kết quả, Ai Cập chiến thắng với thiệt hại khoảng 3-7 máy bay trong khi Israel bị phá hủy 10-18 máy bay.
7. “Ngày thứ Năm đen tối”
            Đây là cuộc chiến diễn ra với nỗ lực của Liên Xô và CHDCND Triều Tiên chống lại Mỹ. Các chuyên gia cho rằng cuộc không chiến này tạo nền tảng cho sự ra đời của các máy bay chiến đấu hiện đại.
           MiG Alley được cho là "nơi sản sinh ra cuộc chiến của máy bay chiến đấu phản lực". "MiG Alley" là cái tên được các phi công thuộc lực lượng quân sự của Liên Hợp Quốc đặt cho khu vực chia cắt phía tây bắc của Triều Tiên. Trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, tại khu vực này diễn ra một loạt các trận không chiến giữa các phi công của lực lượng Liên Hợp Quốc với phi công của Triều Tiên và đôi khi là của Trung Quốc hoặc Liên Xô.
           Các cuộc không chiến diễn ra ở MiG Alley của Triều Tiên là thường xuyên, nhưng một sự cố tồi tệ nhất đã xảy ra đối với Mỹ vào ngày 12/4/1951. Không quân Mỹ đã gọi đó là "Ngày thứ Năm đen tối".
           Chỉ 30 chiếc máy bay MiG-15 do Liên Xô sản xuất đã tấn công 136 máy bay Mỹ, trong số này có 36 pháo đài bay B-29 và 100 chiếc F-80 Shooting Star và F-84 Thunder. Cuộc tấn công này đã chứng tỏ rằng máy bay ném bom B-29 đang bị lỗi thời.
          Kết quả, Liên Xô thắng trong trận giao tranh này mà không bị tổn thất chiếc máy bay nào, trong khi Mỹ thiệt hại 12 chiếc.
8. Không chiến ở Nis Serbia
            Diễn ra vào ngày 7/11/1944, trận không chiến này là cuộc xung đột quân sự trực tiếp duy nhất từng xảy ra giữa Liên Xô và Mỹ trong lịch sử.
           Các máy bay ném bom của Mỹ đã vì một lý do chưa được xác định đã bay 400km chỉ để nhằm phát hiện bộ binh của Liên Xô triển khai ở Belgrade. Sau đó, vụ đụng độ đã xảy ra giữa các máy bay ném bom P-38 của Mỹ với 9 chiếc máy bay chiến đấu Yak của Liên Xô trong vòng 15 phút.
Thương vong chắc chắn là có, nhưng cho đến nay con số thiệt hại chính xác của hai bên vẫn chưa được tiết lộ.
9. Cuộc tấn công Dieppe
          Đây được coi là trận không chiến trong một ngày lớn nhất trong Chiến tranh Thế giới thứ 2, diễn ra giữa Đức và quân Đồng minh vào ngày 19/8/1942 ở Dieppe, Pháp.
           Nó diễn ra trong cuộc tấn công của lực lượng hải quân Đồng minh nhằm vào cảng Dieppe vốn bị chiếm đóng bởi quân Đức. Liên quân đã sử dụng 74 phi đội máy bay, 237 tàu chiến và 5.000 binh sĩ của Canada, 1.000 quân Anh cùng 50 biệt kích Mỹ.
           Kết quả, người Đức đã giành chiến thắng với thiệt hại 170 máy bay, 311 binh sĩ tử trận, trong khi phía Đồng minh là 4.384 binh sĩ tử trận, 106 máy bay, 34 tàu chiến và 10 xe tăng bị phá hủy.
10. “Ngày thứ Sáu đen tối”
           Quân đội Đức ở Sunnfjord, Na Uy với khoảng 300.000 người đã yêu cầu các tàu tiếp tế và các tàu này trở thành mục tiêu tấn công chủ yếu của quân Đồng minh.
           Hơn 50 máy bay chiến đấu đã tham gia tấn công các tàu tiếp tế trên vào ngày 9/2/1945. Nhưng cuối cùng quân Đồng minh đã thất bại trong việc ngăn chặn tàu khu trục tiếp cận điểm cần đến. Đức chỉ có 4 binh sĩ thiệt mạng so với con số 14 của phe Đồng minh, trong khi không một chiếc tàu nào bị đánh chìm.
Đức đã thắng trong trận chiến này, nhưng điều làm cho trận không chiến Sunnfjord trở nên nổi tiếng là thực tế không có thương vong dân sự nào.

Chủ Nhật, 17 tháng 8, 2014

3 Yếu tố an toàn cho hoạt động xã hội dân sự trong nước độc tài

Các nguyên tắc căn bản về hoạt động xã hội dân sự áp dụng cho mọi môi trường. Tuy nhiên, khi chế độ độc tài đang khống chế cả xã hội thì các nguyên tắc này chưa đủ. Các bài học từ những xã hội mở không giúp chúng ta cách đối phó với những khó khăn và nguy hiểm thuộc vùng “cấm địa”. Bởi vậy, hoạt động xã hội dân sự trong “cấm địa” đòi hỏi thêm 3 yếu tố: hành lang an toàn, vòng đai an toàn, và hậu cứ an toàn.

Hành lang an toàn

Hành lang này được tạo nên bởi sự quan tâm và can thiệp của quốc tế trong một lãnh vực nhân quyền nhất định, như quyền lao động, quyền tự do tôn giáo, quyền văn hoá, quyền không bị tra tấn, quyền không bị nô lệ, quyền của người khuyết tật… Khi chế độ độc tài, dưới áp lực quốc tế, cam kết tôn trọng một lãnh vực nhân quyền thì đó là khởi điểm để xây dựng một hành lang an toàn.

Một ví dụ gần nhất là chuyến thị sát của Báo Cáo Viên Đặc Biệt của LHQ về tự do tôn giáo hay tín ngưỡng đang nâng sự quan tâm quốc tế về tình hình đàn áp tự do tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam. Qua các công tác quốc tế vận hiệu quả, sự quan tâm này có thể mỗi ngày được nâng cao và đắp dày thêm để trở thành bức tường che chắn. Đằng sau bức tường ấy là hành lang an toàn cho những người hoạt động tôn giáo. Dĩ nhiên sự an toàn ấy chỉ tương đối và tuỳ thuộc vào mức độ quan tâm và can thiệp của quốc tế.

Có nhiều cách để tăng mức an toàn, như là ở ngoài thì dùng quốc tế vận để áp lực chế độ phải tôn trọng quyền sinh hoạt tôn giáo của mọi người dân mà không phải đăng ký, và ở trong thì các cộng đồng tôn giáo nhanh chóng đào tạo số chuyên viên về báo cáo vi phạm tự do tôn giáo với LHQ và các quốc gia có ảnh hưởng lên chính quyền Việt Nam.

Trong phạm vi hẹp của hành lang an toàn, người hoạt động xã hội dân sự có thể thực thi từng bước các quyền của mình, như quyền tự do ngôn luận, quyền hội họp ôn hoà, quyền lập hội. Cũng dùng ví dụ trên, nếu đã gọi là tự do tôn giáo thì tín hữu phải có quyền truyền thông với nhau qua các bản tin và các trang blog hay facebook; phải có quyền tụ tập để cầu nguyện, dậy giáo lý và thực hiện các sinh hoạt tôn giáo khác; phải có quyền lập ra các nhóm từ thiện và bác ái để trước hết tương trợ cho nhau và rồi phục vụ xã hội theo đúng tín lý của tôn giáo mình.

Một người hay một nhóm người có thể hoạt động trong hai hay nhiều hành lang an toàn và như vậy nới rộng không gian hoạt động. Chẳng hạn, một cộng đồng tôn giáo đang hoạt động về tự do tôn giáo cũng có thể hoạt động trong các hành lang an toàn khác đã được thiết lập như phòng chống buôn người hay chống tra tấn.

“Hành lang an toàn” khai dụng sự liên đới giữa tất cả các nhân quyền: Nếu vi phạm một quyền thì tất cả các quyền khác cũng đều bị vi phạm. Ngược lại, chọn một nhân quyền làm mũi nhọn để khai dụng thì qua đó các quyền khác cũng lần lượt được triển khai quanh mũi nhọn ấy. Nhìn cách khác, khi hành lang an toàn được thiết lập từ một mũi nhọn nhân quyền, nó cung ứng môi trường để thực thi những quyền khác với điều kiện phải giữ mình ở trong phạm vi tương đối an toàn của hành lang. Bước ra bên ngoài bức tường che chắn thì chẳng khác gì tự banh áo giáp và phơi ngực trước tầm nhắm của chế độ.

Nguy hiểm hơn, khi một tổ chức thuộc khu vực xã hội dân sự bị xâm nhập bởi đảng phái chính trị hay hợp tác với tổ chức trá hình do đảng phái chính trị tạo dựng thì đồng nghĩa với mở lỗ hổng nơi bức tường che chắn, gây nguy hiểm cho mình và liên luỵ đến tất cả những ai giao du, hoạt động với mình.

Vòng đai an toàn

Dù giữ mình trong phạm vi của hành lang an toàn, những người tiên phong và chủ chốt luôn luôn đối mặt với sự đe doạ nhiều hơn là những người khác, cho nên cần thêm “vòng đai an toàn” bao quanh từng cá nhân. Đó là sự chú ý đặc biệt và sẵn sàng can thiệp của quốc tế nếu có bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm nào cho những cá nhân này.

Chẳng hạn, trước khi đẩy mũi nhọn tự do tôn giáo để rồi mở hành lang an toàn, chúng tôi tạo cơ hội cho một số chức sắc tôn giáo điều trần tại Quốc Hội Hoa Kỳ, tiếp xúc với các phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ, gặp gỡ giới chức của nhiều toà đại sứ Tây Phương, và liên lạc trực tiếp với LHQ. Bao quanh họ là một vòng đai an toàn ngày càng dày đặc. Khi công an sách nhiễu một chức sắc Cao Đài, lập tức Chủ Tịch Hội Đồng Nhân Quyền Tom Lantos của Hạ Viện Hoa Kỳ lên tiếng và toà đại sứ Hoa Kỳ đã gọi điện thoại để theo dõi tình hình và báo cáo cho Quốc Hội; mới đây phái đoàn của Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ cùng với Đại Sứ Hoa Kỳ và một số nhân viên toà đại sứ đã họp với chức sắc ấy và hai đồng sự ở Hà Nội. Trước đó, Báo Cáo Viên Đặc Biệt của LHQ về tự do tôn giáo hay tín ngưỡng cũng đã đến thăm chức sắc này và đồng sự tại nơi cư trú ở Vĩnh Long.

Vòng đai an toàn phải được tạo lập trước khi một cá nhân tham gia những công việc dễ thu hút sự sách nhiễu hay đàn áp. Điều này đòi hỏi có sự chuẩn bị từ rất sớm về kế hoạch và nhân sự chuyên môn cho quốc tế vận, và một cơ chế để can thiệp cấp thời khi hữu sự.

Khi một người hoạt động trong nhiều hành lang an toàn thì vòng đai an toàn cho cá nhân cũng sẽ rộng ra vì cùng lúc nhận được sự chú ý và can thiệp của các giới chức quốc tế thuộc các lãnh vực nhân quyền khác nhau. Tuy nhiên, trải mình ra quá rộng thì không thể củng cố về chiều sâu và tầm chuyên môn của hoạt động.

Hậu cứ an toàn

Dù giữ mình trong hành lang an toàn và dù có vòng đai an toàn bảo bọc, một cá nhân vẫn có thể gặp hiểm nguy vì sự an toàn chỉ là tương đối. Chế độ sẽ không bó tay và ngồi yên. Cho nên phải có sẵn một “hậu cứ an toàn” để rút về mà công việc vẫn liên tục. Muốn vậy thì phải có một tổ chức với những thành viên có khả năng để sẵn sàng đổi chỗ cho nhau: người cần rút về “hậu cứ” hoán chuyển vai trò và công tác với người bước ra tiền phương. Đây là một vai trò đặc biệt của tổ chức hoạt động xã hội dân sự trong môi trường không an toàn. Các người hoạt động riêng rẽ không hề có hậu cứ an toàn.

Trong 15 năm qua, BPSOS dùng quốc tế vận để lần lượt mở ra nhiều hành lang an toàn quanh các mũi nhọn nhân quyền như tự do tôn giáo, chống buôn người, chống cưỡng chiếm đất đai, chống tra tấn, tự do cho tù nhân lương tâm, quyền lao động… Trong những năm gần đây, Liên Minh Cho Một Việt Nam Tự Do Và Dân Chủ và tiền thân của nó đã thiết lập vòng đai an toàn cho ngày càng đông những người hoạt động tiên phong. BPSOS còn có chương trình bảo vệ đồng bào đi lánh nạn ở Thái Lan và Mã Lai hoặc đến tị nạn trực tiếp ở Hoa Kỳ, nhưng đây không phải là “hậu cứ an toàn” theo nghĩa trên. Hậu cứ an toàn phải do chính người trong nước thực hiện qua việc hình thành và củng cố các tổ chức hoạt động xã hội dân sự đúng nghĩa.

Cưu mang cho xã hội dân sự thoát thai từ thể chế độc tài là vô cùng khó khăn và nguy hiểm. Chúng ta có thể giảm bớt những khó khăn và nguy hiểm ấy nếu làm đúng việc, đúng cách và đúng lúc.

Thứ Năm, 14 tháng 8, 2014

Tìm hiểu cơ bản về Islam (Hồi giáo)


  * Islam (đạo Hồi giáo)
Islamnguyên nghĩa là sự phục tùng, nên tín ngưỡng nàyliên quan đến việc tuân phục hoàn toàn vào Thượng đế mà Muslim (người theo đạo Hồi giáo) gọi là ALLAH. Người Muslim tin rằng tín lý của họ do Allah mặc khải cho Rasul (Thiên sứ) Muhammad. Những lời này được tập hp lại trong Qur’an (Thiênkinh) của Islam.
 
* Tín lý Islam
 
Tín lý Islam được diễn đạt trong câu Shahadat (tuyên ngôn đức tin) “La i la ha il lal lah – Không có Thượng đế nào ngoài Allah – Mu ham madar rasu lullahMuhammad là Rasul của Allah “Người Muslim tin rằng có sự phán xét sau cùng. Allah sẽ tùy theo phúc hay tội của từng người mà cho vào thiên đàng hoặc giam vào hỏa ngục. Để có cuộc sống tốt, người Muslim tuân theo những lời chỉ dạy trong Qur’an và Hadith (lời và việc làm của Rasul Muhammad cùng 62 người những đồng sự của Rasul) .
 
* Thế giới Islam
 
Sau khi tín lý được mặc khải cho Muhammad, Islam lan nhanh khắp Trung đông và Bắc Phi. Trung đông là trung tâm của Islam. Tại miền này, Islam là tôn giáo chính ở nhiều quốc gia. Mọi người Muslim đều hướng về Makkah (Mecca – thuộc Saudi Arabia) mỗi khi hành lễ và mong ước hành hương Hajj nơi thánh địa Makkah một lần trong đời người. Islam có nhiều tín đồ ở Bắc Phi và Đông Nam Á. Tuy là tôn giáo có sau nhưng Islam phát triển nhanh nhất so với các tôn giáo khác nhờ vào hoạt động truyền giáo và dân số tăng nhanh nơi những nước Islam. Hiện nay, có hơn 1 tỷ 8 người Muslim trên toàn thế giới.
 
Năm trụ cột của Islam
 
Mọi người Muslim phải thực hiện những việc quy định mệnh danh là Năm trụ cột (Rukun Islam) và xem sự thực hiện này là một phần trong nghĩa vụ phụng thờ Allah. Mỗi trụ xem như một cấu trúc tạo nên nền tảng vững chắc cho tôn giáo . Quan trọng hàng đầu là trụ thứ 1 (tuyên ngôn đức tin).
Shahadat: đây là lời tuyên xưng đức tin của người Muslim “La i la ha il lal lah – Không có Thượng đế nào ngoài Allah – Mu ham madar rasu lullah – Muhammad là rasul của Allah Muôn trở thành một người Muslim phải tuyên xưng câu này. 
Salat (hành lễ) : Salat là hình thức thờ phượng chính của Islam. Người Muslim phải hành lễ năm lần trong một ngày vào những giờ được quy định cụ thể. Buổi hành lễ chung cử hành tại Masjid (thánh đường) mỗi trưa thứ sáu là ngày lễ chính trong tuần (Salat Jumat). Kinh Qur’an dạy người Muslim thể hiện sự hành lễ nên tư thế hành lễ cũng quan trọng. Các tư thế đó là: đứng, khom người và phủ phục. Trong những tư thế đó buộc trán, ngón chân, đầu gối, bàn tay phài chạm đất .
Sawm (nhịn tháng Ramadan- tháng thứ 9 Hồi lịch) : Việc nhịn này là không đưa bất cứ vật gì từ ngoài vào cơ thể người và thực hiện từ sáng đến tối trong một ngày và đủ 30 ngày. Buổi tối thì sinh hoạt bình thường.
Zakat (bố thí) : Người Muslim luôn ra tay giúp đỡ kẻ nghèo khó. Zakat còn bao hàm ý niệm là phụng thờ Allah một cách gián tiếp qua việc cảm tạ ân phúc của Người.
Hajj (hành hương) : Nếu có điều kiện và khả năng, Muslim phải thực hiện Hajj đến Makkah tối thiểu một lần trong đời người. Cuộc hành hương Hajj được thực hiện vào tháng Zulhidjah (tháng 12 Hồi lịch). Người hành hương (nam) mặc trang phục Ihrams màu trắng, không đường may, chỉ quấn lên người và Ihrams này sẽ là vải liệm của họ khi qua đời. 
 
Umma:
 
Cộng đồng Islam được gọi là Umma. Sau này khi Islam lan rộng thì umma ám chỉ người theo Islam (Muslim) bất kể sắc tộc, quốc tịch, ý thức hệ. Umma tạo nên tình đoàn kết tôn giáo để đối phó với những thách thức trước các thuyết thế tục.
 
Phái Sufi
 
Là phái thần bí của Islam. Nó nhấn mạnh mối quan hệ của cá nhân với Allah và xem đây là bổ sung cho lề luật của Allah. Tín đồ Sufi ra sức trở nên gần gũi với Allah bằng cách cử hành nghi thức có nhạc, hát ca, nhảy múa và luyện hít thở nhằm đạt được trạng thái huyền nhiệm. Phái Sufi còn đề cao nhân đức khiêm cung và sự chăm sóc tha nhân.
* Các hệ phái sufi: Sufi có nhiều hệ phái riêng, mỗi hệ phái dưới sự lãnh đạo tinh thần của shaykh. Hệ phái nào cũng có những tín đồ và các tu sĩ Hồi giáo (gọi là faqir hoặc dervish). Giới tu sĩ phái sufi Thổ Nhĩ Kỳ được mệnh danh là “những thầy tu luân vũ” vì họ có điệu nhảy rất sinh động.
 
Phái Sunni:
 
Chiếm 90% Muslim trên thế giói theo phái sunni. Sunni từ chữ “sunnah” nghĩa là con đường của Rasul Muhammad đã vạch ra qua lời giảng và việc làm của ông. Muslim theo sunni công nhận những caliph đầu tiên là kế vị hợp thức của Rasul Muhammad và đề cao quan điểm cùng tập tục của số đông Umma Islam.
* Truyền thống Sunni : Nhiều nhóm tín đồ tách khỏi nguồn tư tưởng của phái sunni. Vào thế kỷ thứ VII, nhóm Kharijis đã có quan điểm khác về nhiều vấn đề thần học và minh định tín lý. Một số nhóm nhỏ hơn vẫn tồn tại đến ngày nay như nhóm Ibadi (Oman) và Đông Phi. Nhóm Yezidi tôn kính Melek Taus một vị thiên thần sa ngã nhưng họ tin là đã được Allah tha thứ .
 
Phái Shi’ite :
 
Đây là một trong những phái chính của Islam. Tên Shi’ite xuất phát từ tiếng Ả rập “Shi’at Ali” (đảng của Ali). Phái Shi’ite tin rằng Ali và hậu duệ của ông là những lãnh đạo thực sự của Umma. Họ đề cao sự hy sinh gian khổ và tôn kính Husayn (con của Ali) vì vị này đã tử đạo ở Kerbela (năm 680 SCN). Phái Shi’te hình thành hệ thống giáo luật riêng. Trào lưu cấp tiến hơn của Shi’ite đã được dấy lên qua cuộc cách mạng Iran.
* Truyền thống Shi’ite : Shi’ite chiếm đa số ở quốc gia Iran và miền nam Irak. Có vài hệ phái phát triển t một nhóm gọi là Isma’ili. Điển hình là Druzes ở Lebanon .
 
Thiên kinh Qur’an :
 
Nền tảng tín lý Islam là kinh Qur’an. Người Muslim tin rằng đây là những lời phán dạy của Thượng đế Allah. Kinh Qur’an nói về Allah và sự cao cả của Người; về bổn phận của bầy tôi phải vâng phục Allah; về vai trò của Muhammad là người truyền đạt thông điệp của Allah. Kinh Qur’an còn ghi những lời dạy về gia đình và cộng đồng. Kinh này được bổ sung bằng sunnah là bộ tổng tập về những việc lảm và lời dạy của Rasul Muhammad. Kinh Qur’an và sunnah hình thành nguồn giáo luật Islam. Kinh Qur’an được Allah mặc khải cho Muhammad thông qua thiên thần Jibrael suốt thời gian 20 năm. Người Muslim đọc kinh Qur’an bằng tiếng Ả rập là ngôn ngữ chính trong nguyên bản.
 
Hadith:
 
Là tổng tập lời dạy của Muhammad hoặc của một trong các đồng sự của Muhammad. Hadith bao hàm những chỉ giáo liên quan đến các lĩnh vực của đời sống. Uy lực của Hadith rất lớn, chỉ đứng sau kinh Qur’an.
 
Shari’a (luật Islam):
 
Là con đường mà mọi người Muslim phải noi theo suốt đời. Kinh Qur’an và Hadith hình thành nền tảng của Shari’a. Nếu một vấn đề cá biệt nào đó chưa đề cập ở đây, thì lúc đó áp dụng nguyên tắc loại suy hoặc dựa theo tập tục của cộng đồng cư dân.
 

Thứ Tư, 13 tháng 8, 2014

Bao nhiêu quan Việt được trộm ghé thăm... cuỗm tiền tỷ?

Có ông quan tỉnh giấu dưới gầm giường 65 cây vàng, cán bộ thuế lộ 12 sổ tiết kiệm trị giá 5 tỷ đồng... Tất cả bị trộm khoắng sạch.
Chỉ đến khi kẻ trộm ra tay, thiên hạ mới biết các vị quan chức này sở hữu khối tài sản không nhỏ so với đồng lương công chức.
Giám đốc Sở TN-MT TP HCM bị trộm cuỗm 1,6 tỷ đồng
Ngày 11/8, Công an quận 1, TP HCM cho biết đang điều tra vụ giám đốc Sở Tài nguyên & Môi trường TP HCM, ông Đào Anh Kiệt, bị trộm 1,6 tỷ đồng và 30.000 USD tại cơ quan.
Bước đầu ông Đào Anh Kiệt khẳng định nguồn gốc số tiền bị mất là tiền ông tích góp suốt 37 năm làm việc và tiền của vợ dành dụm vừa rút ra từ ngân hàng để mua căn nhà chung cư cho con trai.
 Ông Đào Anh Kiệt, Giám đốc Sở TN-MT TP HCM.
Đây không phải là lần đầu tiên quan chức lộ tài sản lớn sau khi bị trộm. Trước đó đã có hàng chục vụ án quan chức, lãnh đạo bị trộm đột nhập vào nhà, cuỗm hàng khối vàng, tiền, thậm chí lấy cả ô tô đi mà không hề hay biết. Có những ông chỉ là quan chức huyện nhưng tài sản bị trộm lên tới cả chục tỷ đồng khiến không ít người choáng váng.
Nhà Trưởng ban Quản lý dự án bị trộm khoắng 1,5 tỷ
Tháng 2/2013, trộm đã đột nhập nhà riêng ông Phạm Minh Tú, Trưởng Ban quản lý dự án huyện Đông Hải (Bạc Liêu), ở thị trấn Giá Rai, huyện Giá Rai (Bạc Liêu) lấy trộm tài sản với trị giá khoảng 1,5 tỷ đồng trong két sắt. Ông Tú trình báo, tài sản trên gồm 1 tỷ đồng tiền mặt của nhiều doanh nghiệp gửi để qua Tết nộp ngân sách, 4.000 USD của cha mẹ vợ ông Tú và tiền, vàng là tài sản của gia đình.
Điều đáng nói, bọn trộm đột nhập nhà ông Tú có liên quan đến hàng loạt vụ trộm trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng, Hậu Giang, Cần Thơ, Trà Vinh... Chúng chỉ tìm đến nhà cán bộ khá giả hoặc tiệm vàng để trộm.
“Siêu trộm” đột nhập hàng chục nhà quan chức, cuỗm 10 tỷ đồng
Vụ án “siêu trộm” Đặng Ngọc Tân (SN 1982, Đà Nẵng) thu hút sự chú ý của dư luận bởi số lần trộm cắp và số tài sản rất lớn. Đặc biệt, “siêu trộm” này chỉ thích đột nhập nhà quan chức.
Cụ thể, từ tháng 3/2008 đến tháng 4/2011, Tân đã 45 lần đột nhập tư gia các doanh nhân, quan chức và thành công 36 vụ, chiếm đoạt hơn 10 tỷ đồng. Trong danh sách hàng loạt nạn nhân có một vị giám đốc sở (bị mất 110 cây vàng miếng SJC), con trai của một vị chủ tịch thành phố…
 Siêu trộm Đặng Ngọc Tân tại tòa. 
Toàn bộ tiền trộm được, Tân mua ô tô hiệu Venza với giá hơn 1,53 tỷ đồng và mua căn nhà 3 tầng tại tổ 10, phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn.
Tại tòa, “siêu trộm” này khai nhà đại gia, quan chức mới lắm tiền nhiều của chứ nhà dân thường lấy đâu ra tiền mà đột nhập vào “cho mất công”.
Ngày 10/6/2013, Đặng Ngọc Tân bị tuyên án chung thân về tội trộm cắp tài sản. Vợ của Tân lĩnh 7 năm tù vì tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đồng bọn của “siêu trộm” này cũng phải lĩnh 14 năm tù.
Trộm "vớ bở" valy vàng trị giá gần 3 tỷ dưới gầm giường quan tỉnh
Hồi giữa tháng 7/2014, TAND tỉnh Gia Lai tuyên phạt tổng cộng gần 72 năm tù cho 4 bị cáo gồm: Nguyễn Mạnh Quân, Lê Đình Đạt, Nguyễn Quốc Nam, Nguyễn Ngọc Thuận cùng về tội “trộm cắp tài sản”.
Cách đây hơn 1 năm, 4 đối tượng trên đã thực hiện vụ trộm cắp tại nhà riêng của vợ chồng ông Đặng Xuân Thọ - Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Kon Tum và bà Trần Thị Xuân Lan - Trưởng phòng tổ chức Cục thuế tỉnh Gia Lai. Trong lúc tìm kiếm, Quân phát hiện dưới gầm giường một valy khóa số, bên trong có nhiều vàng thẻ đóng gói thành dây bọc trong túi nilon, nhiều nhẫn vàng, bông tai, lắc vàng, dây chuyền vàng... Tổng số tài sản do nhóm trộm lấy tại nhà ông Thọ khoảng 2,792 tỷ đồng.
 Lê Đình Đạt lúc bị cơ quan điều tra bắt giữ.
Vụ trộm xảy ra khi gia đình bà Lan đang đi du lịch. 5 ngày sau bà Lan trở về phát hiện nhà bị trộm “viếng thăm”, lấy đi nhiều tài sản quý giá nhưng bà lại trình báo lên Công an phường Yên Đổ (TP Pleiku) là bị trộm đột nhập nhà, nhưng không mất tài sản. Khoảng một tuần sau, bà Lan lại có đơn trình báo gửi Công an TP Pleiku, vào đêm 31/12/2012, nhà bà bị kẻ trộm đột nhập lấy cắp 5 cây vàng.
Vụ quan tỉnh mất trộm này đã gây xôn xao dư luận suốt một thời gian dài. Người dân nơi phố núi trong các cuộc “trà dư tửu hậu” vẫn đưa câu chuyện quan tỉnh mất trộm để nói vui rằng “mất trộm, lòi vàng nhà quan”.
Cán bộ thuế bị trộm hơn 6 tỷ đồng
Ngày 5/12/2011, nhà một cán bộ chi cục Thuế ở TP HCM bị trộm đột nhập. Chiếc két sắt trong phòng ngủ bị cạy, tài sản bên trong biến mất.
Theo trình báo của nạn nhân, tên trộm đã lấy đi 10 lượng vàng SJC, 2 bông tai hột xoàn, 1 nhẫn kim cương, 6.000 USD, 12 cuốn sổ tiết kiệm trị giá 5 tỷ đồng đứng tên người vợ. Tổng giá trị số tài sản này là hơn 6 tỷ đồng.
Trộm “viếng thăm”, giám đốc sở mất hơn 1 tỷ đồng
Ngày 30/5, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Kạn đã bắt 3 đối tượng vì liên quan tới vụ trộm cắp ở nhà một giám đốc sở ở tỉnh Bắc Kạn.
Theo trình báo của nạn nhân, ngày 7/5, nhà bà bị kẻ gian đột nhập, trộm 40.000 USD, 5 cây vàng SJC, 1 lắc tay, đôi nhẫn cưới vàng và gần 100 triệu đồng tiền mặt.
Trộm “cuỗm” 57 lượng vàng ở nhà cán bộ tỉnh
Ngày 25/6/2013, ba tên trộm đã đột nhập vào nhà một nữ cán bộ văn phòng UBND tỉnh Nghệ An và lấy đi 57 lượng vàng cùng 50 triệu đồng tiền mặt.
Chồng nạn nhân là cảnh sát giao thông thuộc Công an tỉnh Nghệ An, đã về hưu.

Thứ Ba, 12 tháng 8, 2014

Bật mí lực lượng chiến đấu cho Kiev ở miền đông Ukraine

        Có nhiều vấn đề với lực lượng thân Kiev ở miền đông bao gồm quân đội, cận vệ quốc gia, Right Sector và các tiểu đoàn phòng vệ lãnh thổ.
      Cuộc khủng hoảng ở miền Đông Ukraine mà thoạt đầu Bộ trưởng Bộ Nội vụ Ukraine Arsen Avakov hứa sẽ giải quyết hoặc bằng đàm phán, hoặc bằng vũ lực trong vài ngày đã kéo dài ba tháng rưỡi. Chiến dịch quân sự bắt đầu giữa tháng 4 chống lại những người không vừa lòng với cuộc đảo chính nhà nước hồi tháng 2 của dân chúng khu vực đã mang đến nhiều thương vong cho cả hai bên, trong đó có dân thường và, theo ý kiến các chuyên gia, từ lâu đã biến thành cuộc nội chiến.
Binh sĩ Ukraine, hơn dân quân mấy lần cả về quân số, cả về trang bị kỹ thuật quân sự, hiện không thể nắm lấy quyền kiểm soát Đông– Nam đất nước. Quân đội Ukraine tiếp tục đánh phá bằng pháo binh vào Donetsk, Lugansk và Gorlovka, các trận đánh trên đường phố diễn ra ở Avdeevk và Shakhtiorsk.  Hôm 29/7, kênh truyền hình CNN, dựa vào nguồn trong tình báo Mỹ thông báo, là binh sĩ Ukraine ở miền Đông Ukraine bắt đầu sử dụng tên lửa đạn đạo– vũ khí có sức phá hủy lớn nhất được sử dụng cho đến nay trong cuộc xung đột. Hãng tin Deutsche Welle hôm 01/8 dựa vào đại diện cơ quan báo chí của NATO đã tuyên bố là liên minh này xác nhận việc quân đội Ukraine đã sử dụng các tên lửa này.
Binh sĩ Ukraine sử dụng súng bắn tỉa ở Donetsk.
        Theo nguyên quyền Bộ trưởng Quốc phòng Ukraine Igor Tenyukh, quân đội Ukraine đã bước vào năm 2014 trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu “thấp không đạt yêu cầu”. Không lâu sau khi có sự thay đổi chính quyền ở Kiev, ông này đã soạn một báo cáo đặc biệt cho ban lãnh đạo đất nước mới, báo cáo đã chỉ rõ “tình trạng huấn luyện binh sĩ đáng buồn”, “các phân đội không được biên chế đủ chuyên gia quân sự” và “sự thiếu trang bị kỹ thuật hoạt động được và vũ khí”. Phần lớn tăng thiết giáp là những xe đã hao mòn vô hình hoặc lạc hậu mà Ukraine có được sau khi Liên Xô tan rã. Các chuyên gia đánh giá vũ khí duy nhất có hiệu quả thực sự để tiêu diệt sinh lực đối phương là các hệ thống pháo phản lực bắn loạt BM– 21.
         Theo tin của bộ Quốc phòng Ukraine, đầu tháng 1/2014 việc đảm bảo cho binh sĩ các vật dụng quân trang chủ yếu ở mức 4% nhu cầu, còn một số loại quân trang, trong đó có áo giáp chống đạn và mũ chống đạn bắn thẳng nói chung không có. Tổng thống Ukraine Petro Poroshenko vừa phải thông báo, là chính quyền hàng ngày tiêu hơn 5,8 triệu USD để tiến hành chiến dịch đặc biệt, trước đó Bộ Tài chính Ukraine đưa ra số liệu 128 triệu USD một tháng.
Tuy nhiên, bất chấp những vấn đề hiện có, các chuyên gia cho rằng không thể đánh giá thấp binh sĩ Ukraine và trình độ trang bị kỹ thuật của các đơn vị vũ trang.
Các Lực lượng vũ trang Ukraine
        Lực lượng chủ yếu của các đơn vị của các Lực lượng vũ trang Ukraine tham gia chiến dịch quân sự ở Đông– Nam đất nước mà Kiev là các lữ đoàn cơ động đường không. Theo tin từ một số nguồn, bên phía Quân đội Ukraine có ba binh đoàn như vậy: đó là các lữ đoàn cơ động đường không số 72 và 79 đóng quân ở tỉnh Donetsk, và lữ đoàn cơ động đường không số 80 đóng quân gần Kharkov.
Quân đội Ukraine tham chiến ở miền đông. 
         Ngoài ra, trong Quân đội Ukraine có 2 lữ đoàn bộ binh cơ giới được trang bị tăng thiết giáp hạng nặng– đó là lữ đoàn bộ binh cơ giới số 24 đóng quân ở tỉnh Kharkov và lữ đoàn số 30 đóng quân ở Zaporozhiye. Ngoài các lữ đoàn cơ giới và đường không, cuộc chiến chống kẻ thù của chế độ Kiev còn do quân của trung đoàn cơ giới của Bộ đội bộ Nội vụ Ukraine tiến hành.
Quân đội Ukraine được trang bị vũ khí bộ binh tự động, súng phóng lựu cầm tay. Họ có tăng thiết giáp, pháo binh, hệ thống pháo phản lực bắn loạt, các tổ hợp tên lửa phòng không, cũng như không quân chiến thuật, tất cả những thứ này mang lại ưu thế đáng kể so với dân quân không có không quân.
          Hôm 31/7, chính phủ Ukraine đã quyết định dành cho quân đội 791 triệu USD từ quỹ dự trữ ngân sách, còn bộ Tài chính Ukraine đã phát hành công trái trị giá 4,12 triệu USD– tiền thu được sẽ được bộ này đưa vào ngân sách để “cấp kinh phí cho các Lực lượng vũ trang và củng cố tiềm năng quốc phòng của nhà nước”. Ngoài ra, quốc hội Ukraine trong phiên họp kín ngày 31/7 đã thay đổi luật thuế, theo đó Ukraine sẽ có việc thu quân sự lâm thời ở mức 1,5% lương của các công dân đang làm việc. Chính phủ có kế hoạch thu được từ khoản này 241 triệu USD, dự kiến sẽ chi cho các Lực lượng vũ trang.
“Các tiểu đoàn phòng vệ lãnh thổ”
           Cùng trong hàng ngũ với binh sĩ Ukraine trong xung đột ở Đông– Nam đất nước còn có các tiểu đoàn gọi là phòng vệ lãnh thổ, phần lớn được tài trợ bởi giới kinh doanh lớn và trung bình. Theo tin của các phương tiện thông tin đại chúng, riêng chỉ trên lãnh thổ tỉnh Donetsk có tám đơn vị như vậy tham chiến với dân quân. Một phần trong đó được doanh nhân Ukraine nổi tiếng Igor Kolomoiskiy tài trợ. Theo tin của tạp chí Forbes, ông này mỗi tháng chi gần 10 triệu USD từ tài khoản của mình để trả lương cho 3 nghìn chiến binh và nuôi dưỡng, cấp quân trang và nhiên liệu cho họ. Ngoài ra, các đơn vị tương tự như vậy nhận tiền tài trợ của thị trưởng Kiev Vitaliy Klichko và thủ lĩnh đảng Cấp tiến Oleg Lyashko.
Doanh nhân Ukraine nổi tiếng Igor Kolomoiskiy mỗi tháng chi 10 triệu USD cho chiến dịch miền đông.
         Cụ thể, tham gia vào chiến dịch đặc biệt có tiểu đoàn Artemovsk có gần 50 quân do Konstantin Mateichenko chỉ huy, tiểu đoàn Dnepr– 1 quân số gần 300 người, tiểu đoàn Dnepr– 2, tiểu đoàn Donbass đứng đầu là Semen Semenchenko, tiểu đoàn phòng vệ lãnh thổ Kiev– 1, tiểu đoàn phòng vệ lãnh thổ Prikarpatiye, tiểu đoàn phòng vệ lãnh thổ Ukraine quân số gần 100 người, cũng như tiểu đoàn Kharkov– 2.
        Đầu tháng 7,  hãng tin Ucrinform đưa tin, là tiểu đoàn tình nguyện Azov quân số 300 người cũng do Kolomoiskiy tài trợ đã được chuyển đến tỉnh Donetsk– trước đó nó có 2 tháng ở Berdyansk tỉnh Zaporozhiye. Ở tỉnh Lugansk có tiểu đoàn phòng vệ lãnh thổ Aidar quân số gần 150 người. Tiểu đoàn này được thành lập hồi tháng 5 năm nay, gồm lính tình nguyện ở các tỉnh Lugansk, Volyn, Kharkov và Ivano– Frankovsk, Crimea, Donetsk và Kiev, cũng như những thành viên tích cực của Maiđan.
          Theo thông báo của bộ Quốc phòng Ukraine, ngày 17/6 tiểu đoàn Aidar không hợp đồng với chỉ huy chiến dịch đặc biệt đã quyết định tổng công kích dân quân ở Lugansk, nhưng rơi vào phục kích và dù đã có viện binh đến vẫn bị thương vong nặng. Người đứng đầu nước cộng hòa nhân dân Lugansk tự xưng Valeriy Bolotov tuyên bố, là dân quân thực tế đã tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn Aidar. Sau vụ này Bộ Quốc phòng Ukraine đã gọi số còn lại về và quyết định giải thể nó, tuy nhiên Tổng thống đã dừng quyết định này lại.
           Theo chủ tịch Trung tâm Phân tích địa chính trị quốc tế thượng tướng Leonid Ivashov, các đơn vị của Kolomoiskiy trang bị kém hơn quân chính quy, song họ cũng có súng bộ binh tự động, súng phóng lựu cầm tay, tăng thiết giáp, pháo binh đi cùng và hệ thống pháo phản lực bắn loạt. Ông Ivashov nói: “Đây là các loại vũ khí mới mua sắm, nhưng số lượng được trang bị không nhiều”.
Theo tin của tổng biên tập tạp chí “Phòng vệ quốc gia” Igor Korotchenko dựa vào các nguồn tin quân sự Ukraine của mình, hồi tháng 5 năm nay các tiểu đoàn của Kolomoiskiy đã nhận được vũ khí bộ binh, súng phóng lựu, xe tăng và phương tiện phòng không PVO theo chỉ thị của tổng thống.
Korotchenko nói với RIA Novosti: “Cụ thể đã chuyển giao 6 xe tăng T– 64, 9 xe chiến đấu bộ binh, 12 xe phóng tên lửa bắn loạt Grad, cũng như các tổ hợp tên lửa phòng không Strela– 10, Shilka và Buk".
Cận vệ Quốc gia và Right sector
         Ngoài quân đội và các tiểu đoàn phòng vệ lãnh thổ, bên phía binh sĩ Ukraine còn có sự tham chiến của Cận vệ Quốc gia và Right sector.
Cận vệ Quốc gia Ukraine là các đơn vị vũ trang trong tổ chức của Bộ Nội vụ Ukraine được khôi phục lại sau các sự kiện ở Crimea, bao gồm đại diện của Bộ đội bộ Nội vụ, chiến binh của cái gọi là tự vệ của Maiđan và thành viên các tổ chức dân tộc cực đoan. Chủ yếu Cận vệ Quốc gia là bộ binh nhẹ, tác chiến khi có thiết giáp yểm hộ. Quân số của Cận vệ Quốc gia hơn 30 nghìn người, theo giới quân nhân Ukraine, trong tương lai lực lượng này có thể lên đến 60 nghìn.
Các lực lượng chủ yếu của các phân đội Cận vệ Quốc gia– gần 3 nghìn người– tập trung ở gần Lugansk. Còn một đơn vị quân số gần 200 người kiểm soát điểm dân cư Belolutsk trong tỉnh Lugansk. Cận vệ Quốc gia thực tế được trang bị như quân chính quy: binh sĩ có súng bộ binh tự động, súng phóng lựu cầm tay, tăng thiết giáp, pháo binh, hệ thống pháo phản lực bắn loạt, các tổ hợp tên lửa phòng không và không quân.
          Chủ tịch liên hiệp cựu binh các phân đội chống khủng bố Alpha Sergei Goncharov nhận định, là Cận vệ Quốc gia nhận được sự cung cấp thêm đáng kể từ khối tài chính do Mỹ viện trợ. Đồng thời chuyên gia này không coi lực lượng này là nguy cơ đáng kể. Theo ông này, Cận vệ Quốc gia là “tập hợp những kẻ đánh nhau vì tiền”, vì vậy không thể đánh giá đó là một đơn vị vũ trang nghiêm túc.
Thành viên Right sector – nhóm cực hữu không có tổ chức chính thức được đăng ký hoạt động tập hợp những thành viên tích cực của nhiều tổ chức dân tộc cực đoan Ukraine– đã trở nên nổi tiếng trong xung đột với Bộ đội bộ Nội vụ Ukraine và phân đội đặc nhiệm của Ukraine trong các hoạt động phản kháng ở Maiđan tại Kiev. Hiện các đội Right sector quân số mỗi đội khoảng 40 người hoạt động ở các tỉnh Donetsk và Lugansk. Họ được trang bị vũ khí bộ binh tự động và thiết giáp.
Những vấn đề chính
          Bất chấp sự đa dạng của trang bị kỹ thuật không quân và bộ binh có trong trang bị của quân đội Ukraine, trong những tháng xung đột đầu tiên ở Đông– Nam đất nước đã thấy rõ sự sẵn sàng chiến đấu thấp của các phân đội. Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng này là bộ Quốc phòng cung cấp không đủ kinh phí và, như là hệ quả, là thiếu kinh phí để cải tiến và mua sắm vũ khí mới.
Theo cựu quân nhân đặc nhiệm Sergei Goncharov, nguy cơ quân sự nghiêm trọng nhất trong xung đột ở Đông– Nam đất nước là hỏa lực còn lại của quân đội Ukraine. Goncharov nói: “Như chúng ta thấy, họ ít khi đánh trực diện với dân quân, họ gây sức ép bằng hỏa lực mà họ có trong tay”. 
Chủ tịch Trung tâm phân tích địa chính trị quốc tế thượng tướng Leonid Ivashov cho rằng chưa hề có bất cứ sự đổi mới đáng kể nào trong quân đội Ukraine từ thời Liên Xô đến nay. Ông Ivashov giải thích: “Họ mặc quân trang cũ. Vâng, có thêm trong trang bị mấy chiếc xe tăng hiện đại, nhưng chỉ có vậy thôi”. Đồng thời ông Ivashov đánh giá, là tuy vậy quân đội Ukraine trang bị tốt hơn các lực lượng khác đang đánh nhau với dân quân.
         Liên quan đến hiệu quả của các tổ chức quân sự tư nhân thì theo các chuyên gia, theo kết quả hai tháng nó vẫn ở mức cũ. Các chuyên gia giải thích việc này là do sự thiếu các chuyên gia được huấn luyện để có khả năng khai thác sử dụng trang bị kỹ thuật quân sự phức tạp, việc phải huấn luyện thêm ngay trong thời chiến dẫn đến tai nạn. Ngoài ra, chỉ huy các tiểu đoàn phòng vệ lãnh thổ không tham gia lập kế hoạch tác chiến của cụm quân tham gia ATO (АТО– Chiến dịch chống khủng bố), tự ra quyết định sử dụng vũ khí.
         Đương nhiên các tiểu đoàn phòng vệ lãnh thổ không có các chỉ lệnh và chỉ thị tác chiến như trong quân đội, nguồn tin ở bộ Quốc phòng Ukraine khẳng định với RIA Novosti. Do đó, theo nguồn tin này, các đội quân sự hóa ngay hiện nay đã được dùng để phân chia khu vực ảnh hưởng, chiếm đoạt các xí nghiệp và phân xử với các đối thủ cạnh tranh không được ưa thích, mà khu vực sử dụng vượt xa khỏi ATO. Nguồn tin này nói: “Điều này thật đáng buồn, bởi vì cái được mang ra đổi chác không còn chỉ là một tổ chức như Berkut  mà là cả quân đội”.

Thứ Hai, 11 tháng 8, 2014

Nỗi ám ảnh đại dịch khiến 50 triệu người tử vong

          Gần 1/2 dân số thế giới nhiễm bệnh, số người chết ước tính lên đến 50 triệu, đó là những gì đại dịch cúm Tây Ban Nha gây ra.
Xuất hiện vào tháng 3/1918, sau đó lan nhanh qua nhiều quốc gia trên thế giới, dịch cúm mang tên Tây Ban Nha đã trở thành nỗi ám ảnh toàn cầu, kinh khủng hơn cả Chiến tranh thế giới 1.
Đại dịch cúm năm 1918 - tên thông thường là cúm Tây Ban Nha - là một đợt dịch truyền nhiễm lan rộng tới hầu hết mọi vùng trên thế giới.
 Hình ảnh về các nạn nhân cúm năm 1918 được điều trị tập trung.
Virus cúm A/H1N1 chính là nguyên nhân gây bệnh. Trong khi các dịch cúm khác thường tấn công những người cao tuổi, ốm yếu thì hầu hết nạn nhân của dịch cúm Tây Ban Nha là những người trẻ và khỏe mạnh.
Đợt cúm này kéo dài từ tháng 3/1918 đến tháng 6/1920, lan tới tận Bắc Cực và các hòn đảo xa xôi thuộc Thái Bình Dương.
Sở dĩ có nhiều tử vong là vì dịch cúm lần này rất mạnh. Khoảng 50% những người có tiếp xúc với người bị cúm bị lây bệnh và khi bị lây có triệu chứng rất trầm trọng.
Vì triệu chứng trầm trọng khác cúm thường nên lúc bấy giờ, người ta đoán bệnh sai lạc như bệnh sốt xuất huyết Dengue, kiết lỵ hay thương hàn tuy phần lớn tử vong là do các loại vi trùng bội nhiễm lúc bệnh nhân đang bị cúm, sức đề kháng bị suy giảm gây viêm phổi, một số viêm phổi do chính virut cúm gây tổn thương phổi rất trầm trọng.
 Tự trang bị các vật dụng để tránh lây lan dịch cúm năm 1918.
Theo ước tính, đại dịch cúm Tây Ban Nha vào năm 1918 tấn công gần 1 tỷ người - một nửa dân số thế giới lúc đó - vượt qua cả đại dịch "cái chết Đen" thời Trung Cổ.
Mặc dù dịch bệnh bắt nguồn từ Viễn Đông, song nó vẫn được gọi là cúm "Tây Ban Nha", do chính đất nước này đã đưa ra lời cảnh báo đầu tiên về sức tàn phá của nó. Người ta còn cho rằng, virus 1918 có thể đã góp phần đưa Đại chiến Thế giới đến hồi kết, do phần lớn quân lính hai phe bị chết vì cúm nhiều hơn vì vũ khí.
Theo các sử gia, Tổng thống Mỹ lúc đó là Woodrow Wilson đã phải sử dụng một liều thuốc chống cảm cúm khi ông đến Paris bàn thảo các điều khoản chi tiết của hiệp ước Versailles.
Và nếu như ông Wilson không bị bệnh cúm hành hạ thì các điều khoản của hiệp ước này không đến nổi quá khắt khe với phe thất trận như thế và nhân loại đã có thể tránh được Chiến tranh thế giới 2 sau này.

Tư duy mới của Trung Quốc về liên minh

http://globaleconomicwarfare.com/wp-content/uploads/2013/05/russia-china-syria-afp-670.jpg
Tháng 12 năm 1949, Mao Trạch Đông – lãnh đạo tối cao của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa non trẻ – đã có chuyến thăm đến Matxcơva để thương lượng trở thành đồng minh quân sự với Liên Xô. Tuy nhiên, trong vòng chưa đến hai thập kỉ sau đó, liên minh quân sự Xô – Trung đã không những sụp đổ mà còn biến thành thế đối đầu căng thẳng cả về quân sự và ý thức hệ. Những nhu cầu cấp bách mang tính chiến lược của đất nước đã buộc giới lãnh đạo Trung Quốc phải xích lại gần với Hoa Kỳ, và từ sau năm 1972, tạo nên một mô hình bán liên minh giữa 2 quốc gia từng có quá khứ thù địch này. Tháng 1 năm 1979, trong chuyến thăm Washington, ông Đặng Tiểu Bình đã tìm cách lôi kéo Hoa Kỳ để phát triển quan hệ hai nước thành đồng minh không chính thức trên thực tế nhằm đảm bảo được Hoa Kỳ ủng hộ trong cuộc xâm lược Việt Nam sắp đến của Trung Quốc. Trong thập kỉ cuối của Chiến tranh Lạnh, Trung Quốc và Hoa Kỳ cũng duy trì quan hệ ở mức hợp tác chiến lược nhằm chống lại Liên Xô.
Hồ sơ của Trung Quốc về chính trị liên minh thời kì Chiến tranh Lạnh do vậy quả thực rất ấn tượng. Tuy vậy, vào những năm đầu của thập niên 1980, mặc dù quan hệ bán liên minh với Hoa Kỳ vẫn được duy trì một cách hạn chế, nhưng những ngôn từ về vấn đề liên minh quân sự đã không còn xuất hiện trong phát ngôn chính thức. Trên thực tế, chủ trương liên minh đã bắt đầu suy giảm khi quan hệ Xô – Trung xấu đi vào cuối những năm 1950, và cuối cùng kết thúc vào năm 1982 khi Đại hội Đảng lần thứ 12 đặt ra “chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập và tự chủ”. Bắc Kinh tuyên bố theo đuổi nguyên tắc không liên kết trong quan hệ với Hoa Kỳ và Liên Xô, nhằm thực hiện chính sách ngoại giao độc lập.2 Có thể nói đây là một bước ngoặt trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc: từ những năm cuối cùng của Chiến tranh Lạnh khi Trung Quốc thực hiện cải cách kinh tế, rồi đến những thay đổi của thập niên 1990 giúp nền kinh tế Trung Quốc phát triển vượt bậc cho đến tận ngày hôm nay, khi quốc gia này đã đánh dấu sự hiện diện một cách rõ ràng trên trường quốc tế, nguyên tắc ngoại giao nhất quán của Bắc Kinh là không liên minh, và xem chính sách liên minh là một di sản của thời kỳ Chiến tranh Lạnh không phù hợp với đạo đức Trung Hoa.
Tuy thế, quan điểm liên minh đang dần trở lại trong cộng đồng học giả và những nhà làm chính sách của Trung Quốc. Những học giả lớn đang đề nghị đánh giá lại nguyên tắc không liên kết trong chính sách đối ngoại của quốc gia. Mặc dù đây chỉ là những ý kiến bên lề, vài năm gần đây luồng tư tưởng mới về liên minh đã xuất hiện và được cổ vũ bởi một số học giả nghiên cứu quan hệ quốc tế nổi tiếng. Vì sao tư tưởng liên minh quay trở lại bàn nghị luận? Tư tưởng này có thể tạo ra những tác động nào đến chính sách? Nguồn gốc đem đến quan điểm mới về liên minh của Trung Quốc về cơ bản cũng tương tự như những nguồn gốc chính sách liên minh trong thời kì Chiến tranh Lạnh: họ cảm thấy bị thúc đẩy bởi những áp lực mang tính chiến lược từ thay đổi trong cấu trúc hệ thống quốc tế. Cũng giống như áp lực từ Hoa Kỳ ngay sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai buộc Trung Quốc phải liên minh với Liên Xô, hay như áp lực từ Liên Xô trong những năm cuối thập kỉ 1960 buộc Trung Quốc phải tìm kiếm liên minh với Mỹ, thì giờ đây, áp lực từ việc Mỹ tăng cường ảnh hưởng tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương – cái mà Mỹ gọi là “xoay trục về châu Á”3 – đã thúc đẩy những nhà bảo thủ ở Trung Quốc phải xem xét lại khả năng sử dụng phương án liên minh như là một lựa chọn trong chiến lược mới của Trung Quốc. Tuy vậy, chúng ta cần phải thảo luận về các nguyên do khác của tư tưởng liên minh mới của Trung Quốc, cũng như giá trị tư tưởng và tác động chính sách của sự thay đổi này.
Quan điểm mới
Trong số những người có đóng góp cho dòng quan điểm về quan hệ quốc tế không chính thống của Trung Quốc đương đại, Diêm Học Thông (Yan Xuetong) từ đại học Thanh Hoa  có thể được xem là một trong những nhân vật gây tranh cãi nhất và ủng hộ mạnh mẽ những chính sách ngoại giao phi chính thống.4 Ông cũng là người kiên định nhất trong số những nhà phân tích Trung Quốc bảo vệ quan điểm liên minh và đã bắt đầu đề xuất ý tưởng này từ năm 2009.5 Năm kế đó, trong một cuộc nói chuyện với sinh viên, ông Diêm nhấn mạnh chủ trương không liên minh là một điểm yếu rất lớn trong chính sách đối ngoại Trung Quốc vì nó đã ngăn cản Trung Quốc cải thiện quan hệ với các nước láng giềng. Quan điểm này dựa trên lý luận có vẻ nghịch lý rằng, khi Trung Quốc trỗi dậy làm tình thế lưỡng nan về an ninh tại Đông Á trở nên nghiêm trọng hơn, một chính sách liên minh tạo ra sự đảm bảo an ninh của Trung Quốc với các quốc gia láng giềng có thể sẽ là cách tốt nhất để làm giảm nhẹ đi sự hoài nghi của họ về sức mạnh Trung Quốc, từ đó giúp tình trạng căng thẳng trong khu vực dịu đi.6
Trong một bài viết được đăng năm 2011 trên Hoàn Cầu Thời Báo, nơi Diêm là cộng tác viên thường trực, ông ta đã tranh luận rằng sự phân phối quyền lực trên thế giới hiện nay thực chất đang phát triển theo hướng “nhị siêu – đa cường” hơn là đa cực (ít nhất là về vật lực), với Trung Quốc và Mỹ dẫn đầu trật tự thế giới.7 Cũng cần lưu ý rằng Diêm đã từng là một thành viên tham gia tích cực trong những cuộc tranh luận chiến lược của Trung Quốc về trật tự thế giới trong nửa đầu thập niên 1990. Các cuộc tranh luận này đã gần đạt được sự nhất trí trong nội bộ Trung Quốc rằng hệ thống quốc tế những năm 1990 được đặc trưng bởi tính chất “nhất siêu – đa cường” với Mỹ là siêu cường duy nhất và Trung Quốc nằm trong phần “đa cường” còn lại. Ở thời điểm hiện tại, sự phát triển kinh tế liên tục của Trung Quốc đã làm cho Diêm cân nhắc lại những đánh giá trước đó của mình, từ đó ủng hộ ý tưởng về một hệ thống lưỡng cực mới nổi lên. Tuy vậy, xét về mặt trật tự chiến lược quốc tế, ông Diêm lại bi quan cho rằng thế đơn cực của Mỹ đã được củng cố mạnh mẽ hơn chứ không hề bị suy yếu, chủ yếu là do chính sách ngoại giao khôn ngoan mà chính quyền Obama đang thực hiện. Diêm cũng cho rằng Trung Quốc hiện là quốc gia duy nhất trên thế giới có thể thách thức hệ thống đơn cực chiến lược xoay quanh Mỹ, bằng cách thiết lập liên minh với Nga.
Năm 2012, Diêm đẩy mạnh kêu gọi chính phủ thay đổi nguyên tắc ngoại giao. Trong một bài báo viết về vấn đề Biển Đông đăng trên tạp chí Vấn Đề Thế Giới (World Affairs), Diêm đã lồng vào đó quan điểm cho rằng chính phủ cần phải từ bỏ chính sách thao quang dưỡng hối và chủ trương không liên kết, lần lượt là hai nền tảng của chính sách đối ngoại Trung Quốc trong suốt 20-30 năm qua. Chủ trương đầu tiên – thường bị hiểu sai lệch là (thực sự) “ẩn mình chờ thời” – được Đặng Tiểu Bình đề ra sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989 và sự sụp đổ của Liên Xô tiếp sau đó.8 Để thay thế thao quang dưỡng hối (tao guang yang hui), Diêm đề xuất chủ trương khiêm khư cẩn thận (qianxu jinshen), có thể tạm dịch là “hành động khiêm tốn và thận trọng”;9 đồng thời, ông cũng đề nghị đưa chiến lược liên minh thay thế cho chính sách không liên kết. Theo ông Diêm, “không liên kết”:
Đồng nghĩa với việc không tạo được những bạn bè gần gũi, tin cậy nhất. Nếu không có những người bạn này, chúng ta không có ai để dựa vào những lúc khó khăn. Việc không có đồng minh cũng không hề làm giảm đi sự lo sợ của những quốc gia khác về sự trỗi dậy của chúng ta. Chính sách không liên kết đã trở thành rào cản ngăn chúng ta đạt được sự hỗ trợ của hầu hết những quốc gia ở khu vực Nam Hải. Nước Mỹ đang lo lắng về việc chúng ta từ bỏ chính sách không liên kết, bởi vì chính sách lược này đã và đang giúp họ cô lập chúng ta. Nhìn ra cả bốn phía của lãnh thổ Trung Quốc, có thể thấy khu vực bình an  nhất là phía Tây và Tây Bắc, và an ninh ở đó dựa trên liên minh bán quân sự của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải. Tóm lại, điều mà Trung Quốc đối mặt hôm nay không phải chỉ là vấn đề điều chỉnh chính sách đối ngoại, mà còn là điều chỉnh nguyên tắc đối ngoại, đó là có nên điều chỉnh các nguyên tắc “thao quang dưỡng hối” và không liên kết hay không.10
Chủ đề thảo luận này được nối tiếp bằng những phân tích cụ thể hơn về sự cần thiết và tính khả thi của một liên minh Nga – Trung. Bắt đầu với tiền đề cho rằng sự mong muốn và tin cậy của bất kì liên minh nào cũng đều được tạo nên bởi sự tương đồng về lợi ích an ninh giữa các thành viên, ông Diêm khẳng định cả Nga và Trung Quốc không thể có được một lựa chọn chiến lược nào tốt hơn là làm đồng minh của nhau. Nga vẫn luôn phải chịu đựng áp lực liên tục và ngày càng tăng của các nước phương Tây kể từ sau kỉ nguyên chiến tranh Lạnh, trong khi Trung Quốc đang phải đối mặt khả năng bị bao vây bởi những quốc gia đồng minh của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Vì thế, việc tìm ra những lợi ích chung giữa hai quốc gia là cần thiết để chống lại sự xâm lấn chiến lược của Mỹ.11
Dù Diêm là người tranh luận tích cực nhất cho chính sách liên minh, ông không hề đơn độc. Và mặc cho việc ông thường có quan điểm công kích hoặc lập trường cứng rắn trong các cuộc tranh luận về chính sách đối nội thì trong vấn đề liên minh này, Diêm  thực chất lại đứng trên quan điểm ôn hòa, cho rằng liên minh Trung – Nga, trước những áp lực ngày càng tăng cao của tình hình quốc tế, sẽ là một liên minh phòng thủ ngăn chặn được tình trạng ngày càng xấu đi của môi trường chiến lược quốc tế.12 Đới Húc (Dai Xu), một đại tá không quân thuộc lực lượng Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA), có quan điểm cứng rắn hơn nhiều. Trong một bài báo đăng tải trên tờ Hoàn Cầu Thời Báo tháng 1 năm 2012, ông đã quả quyết rằng Washington hiện đang triển khai một kế hoạch quân sự nhằm thống trị cả thế giới, lấy khu vực Á – Âu làm chiến trường chính và Nga – Trung chính là hai đối thủ chủ yếu. Chính vì vậy, ông cho rằng Trung Quốc và Nga cần phải thiết lập “đại liên minh Á – Âu” để cùng nhau chống lại thói quen “bắt nạt” những nước yếu và tham vọng tạo nên một đế chế toàn cầu của Mỹ. Điều này đòi hỏi Trung Quốc phải đánh giá lại nguyên tắc không liên kết của mình, đồng thời xem xét chính sách đối ngoại hiện chỉ tập trung vào kinh tế và phát triển hòa bình. Ông Đới đề nghị trong khi thiết lập một thế trận phòng thủ chủ động trên mặt trận trên biển, Trung Quốc cũng đồng thời nên thực hiện một cuộc “trường chinh” vào trung tâm Á – Âu để đánh bại chiến lược bao vây của Mỹ.13
Tư duy cực đoan của ông Đới không được chia sẻ rộng rãi ngay cả trong nội bộ những người ủng hộ thay đổi chính sách không liên kết. Không những vậy, hầu hết người dân Trung Quốc còn xem ông Đới như người đang đứng ngoài ranh giới của sự hiểu biết và độ am hiểu về chính sách, và những lời nói thô lỗ của ông ta khó lòng được cân nhắc một cách nghiêm túc. Một số đề xuất khác có mức độ đóng góp lớn hơn lại đến từ những học giả ít tiếng tăm, điển hình là Trương Văn Mộc (Zhang Wenmu) của trường đại học Hàng không và Vũ trụ Bắc Kinh; chính ông là người đã nhắc đến sự cần thiết của việc nâng cấp mối quan hệ Nga – Trung từ đối tác chiến lược lên thành đồng minh chiến lược. Thay vì trở thành liên minh quân sự để giải quyết xung đột, ông lại nhấn mạnh rằng nhiệm vụ chính của liên minh nên là bảo vệ lợi ích hợp pháp chung của Nga và Trung Quốc trước sự xâm lấn của Mỹ. Ông cũng đồng thời chỉ trích những người tin vào chính sách không liên kết đã hiểu sai bản chất của chính sách đối ngoại Trung Quốc. Theo ông, trọng tâm của chính sách đối ngoại Trung Quốc kể từ năm 1949 đã là độc lập và tự chủ, chứ không phải không liên kết. Ông cảnh báo việc gắn mình vĩnh viễn vào chính sách không liên kết là Trung Quốc đã tự đào hố chôn mình trước khi cuộc xung đột thực sự bắt đầu.14
La Viện (Luo Yuan), một cựu thiếu tướng của PLA và cũng là cựu Phó giám đốc của Phòng Nghiên cứu các Vấn đề Quân sự thuộc Học viện Khoa học Quân sự, người vốn ủng hộ mạnh mẽ cách tiếp cận cứng rắn hơn trong các chính sách ngoại giao của Trung Quốc, thực tế lại tỏ ra hoài nghi về chiến lược liên minh chính thức. Ông đề xuất rằng thay vì phải có đồng minh, Trung Quốc có thể nâng cấp quan hệ với những quốc gia có ý nghĩa chiến lược (bao gồm cả Nga) lên mức độ hợp tác chiến lược cao hơn, từ đó Trung Quốc sẽ có được những liên minh trên thực tế (de facto) mà không lo sợ những cạm bẫy xuất phát từ những liên minh chính thức.15
Một đề xuất về bán liên minh như vậy, đặc biệt là trong mối quan hệ giữa Nga và Trung Quốc, có vẻ như được nhiều người ủng hộ. Điều này đơn giản vì người ta cho rằng bán liên minh sẽ tạo điều kiện cho Trung Quốc được hưởng lợi nhiều hơn từ những lợi thế an ninh được tạo nên từ sự liên kết chiến lược, nhưng cũng đồng thời tránh được những rủi ro, tính bị động và hệ lụy phức tạp mà một liên minh chính thức có thể đem đến.16 Mô hình bán liên minh tương đối ít tốn kém, linh hoạt và tiện lợi nhưng lại không làm mất đi tính độc lập về đối ngoại vốn được ưa chuộng ở Trung Quốc. Cụ thể, một mối quan hệ bán liên minh Trung – Nga, với khả năng định hướng phòng thủ đầy hứa hẹn, được đánh giá có tiềm năng để phát triển thành một mẫu hình quan hệ giữa các cường quốc. Theo Vũ Trịnh Lương (Yu Zhengliang), một mối quan hệ bán liên minh Trung – Nga không phải để thách thức hay thay thế sự độc tôn của Mỹ; nó chỉ là một phản ứng chiến lược đối với tình hình đang leo thang như hiện nay, nhằm có được một mối quan hệ cân bằng với phương Tây và bảo vệ lợi ích chiến lược của Trung Quốc.17 Những đặc tính bên trong của mô hình bán liên minh phần nào giải thích được tại sao nó lại thuyết phục được nhiều nhà phân tích đang lo ngại về việc từ bỏ một cách quá vội vàng những chính sách ngoại giao lâu nay.
Một tiếng nói quan trọng khác trong cuộc tranh luận này thuộc về Đường Thế Bình (Tang Shiping) của trường đại học Phúc Đán. Ông không ủng hộ một chính sách liên minh nào cụ thể, mà thay vào đó đề nghị Trung Quốc cân nhắc lại vai trò của đồng minh trong những bài học quá khứ. Ông Đường chỉ trích quyết định từ chối liên minh của Trung Quốc là một hành động tự lừa dối; ông cũng đồng thời cho rằng chính sách này đã đưa Trung Quốc vào thế bị các quốc gia khác chế nhạo bởi sự không nhất quán khi nói về tầm quan trọng của đồng minh trong suốt chiều dài lịch sử ngoại giao. Ông lập luận rằng,việc xây dựng liên minh không nhất thiết phải là dấu hiệu của “tư tưởng Chiến tranh Lạnh” –  như cái cách mà chính phủ vẫn luôn quả quyết, và rằng ngay cả trong lịch sử, Trung Quốc cũng chưa bao giờ là một quốc gia không liên kết. Ông Đường kết luận, việc chối bỏ vai trò của liên minh như một chiến lược an ninh đã gây cản trở nghiêm trọng lên tư duy chiến lược của Trung Quốc. Từ đó, ông hối thúc chính phủ cân nhắc mọi chiến lược có thể, kể cả có hay không liên quan tới liên minh, nhằm thúc đẩy lợi ích quốc gia mà không nhất thiết phải phá vỡ nguyên tắc đối ngoại độc lập đề ra năm 1982.18 Quan điểm này của ông đã nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ từ nhiều học giả khác, trong đó có Thời Ánh Hồng (Shi Yinhong) của Đại học Nhân dân.19
Áp lực quốc tế, năng lực được cải thiện và những thất vọng trong nước
Vì sao tư duy mới của Trung Quốc về liên minh lại nổi lên vào thời điểm này? Câu trả lời tốt nhất dựa trên chủ nghĩa hiện thực mới: việc xem xét lại các chính sách hiện hành bị thúc đẩy bởi những thay đổi to lớn trong hệ thống quốc tế mà những ràng buộc của hệ thống đó đang chi phối sự vận động của Trung Quốc.20 Những ràng buộc này đang ngày càng thắt chặt hơn do sự tăng cường vị thế bá quyền chiến lược của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Cảm nhận của Trung Quốc về những áp lực chiến lược từ Hoa Kỳ là lý do thường xuyên được họ sử dụng để biện minh cho việc thiết lập các liên minh nhằm chống lại hoặc cạnh tranh với các hệ thống an ninh của Mỹ trong khu vực.
Kenneth Waltz đã nhìn nhận liên minh là giải pháp cân bằng bên ngoài hữu hiệu, có thể bao gồm “các động thái nhằm tăng cường và mở rộng liên minh của mình và làm suy yếu, thu hẹp liên minh của đối thủ”.21 Những nhà phân tích của Trung Quốc đang xem xét cả 2 khía cạnh của chiến lược này: xây dựng liên minh với Nga và các quốc gia khác, đồng thời phá hoại hệ thống liên minh Mỹ bằng cách tạo áp lực lên những đồng minh khu vực của Mỹ, và làm tăng cái giá mà Mỹ phải trả để đảm bảo những cam kết với đồng minh của mình. Hơn nữa, Trung Quốc hiểu rõ khía cạnh chính trị liên minh trong chính sách của Trung Quốc với các nước láng giềng. Trung Quốc tin rằng liên minh với các nước láng giềng có thể giúp tạo sự tin tưởng chiến lược, từ đó xóa đi những nghi ngờ và củng cố thêm sự hợp tác chiến lược, đồng thời làm suy yếu đi sức hấp dẫn của Mỹ trong vai trò là người cung cấp an ninh.22 Ít nhất, xây dựng liên minh với láng giềng cũng có thể giúp Trung Quốc không bị mất thêm những quốc gia thân thiết vốn đã rất ít ỏi, điều đã được minh chứng bằng những thay đổi gần đây ở Miến Điện.
Nếu những ý tưởng trên trở thành hiện thực, sẽ có hai hệ thống liên minh đối lập trên cùng khu vực châu Á – Thái Bình Dương, và kết quả là một phiên bản Chiến tranh Lạnh khác có thể xảy ra ngay tại thế kỉ 21 với cuộc đối đầu của Mỹ và Trung Quốc. Nếu không có gì thay đổi, khu vực này sẽ phải chứng kiến sự hồi sinh của một thực tiễn không mong muốn. Sự trỗi dậy của Trung Quốc và những động thái quyết liệt của nước này23 trong những năm gần đây đã gây nên sự phản ứng mạnh mẽ từ Washington và các nước đồng minh khu vực. Chính điều này khiến Trung Quốc bàn thảo về việc đáp trả tương thích, tập trung vào việc tái thiết lập các quan hệ đồng minh từ lịch sử đối ngoại thăng trầm của họ trong vấn đề này. Người ta có thể lý giải việc này như một ví dụ của tình trạng lưỡng nan về an ninh đang ngày càng tăng cao giữa Trung Quốc và các nước láng giềng vốn đang nhận được hỗ trợ chiến lược từ Mỹ. Những quốc gia láng giềng này, trong lúc tìm kiếm biện pháp thắt chặt an ninh thông qua mở rộng quân sự, đã làm nâng cao sự e dè lẫn nhau. Chính vì thế, mỗi nước đều không ngừng phát triển năng lực quốc phòng và cuối cùng thì không bên nào thực sự đạt được tình trạng an ninh tốt hơn trước đây.24 Người ta có thể diễn giải điều này như là một cuộc cạnh tranh giữa một quyền lực đang lên (Trung Quốc) và một bá chủ thế giới (Mỹ) trong việc thiết lập cấu hình tương lai của trật tự khu vực. Nếu Mỹ tiếp tục “xoay trục” mà không trấn an Trung Quốc, và nếu Trung Quốc thấy cần thiết phải xây dựng chính sách liên minh, thì kết quả tồi tệ nhất có thể là một cuộc đấu tranh giành quyền thống trị chiến lược ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Tuy vậy, áp lực về trật tự khu vực không phải là nguyên nhân duy nhất dẫn đến tư tưởng liên minh mới của Trung Quốc, hoặc nói cách khác là nó không nhất thiết phải dẫn đến tư tưởng này. Nhìn lại lịch sử một chút sẽ làm rõ hơn điều này. Sau thập niên 1980, khi liên minh không còn chiếm vai trò quan trọng trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc, đã có ít nhất hai lần nó có thể được hồi sinh. Từ 1989 đến 1992, việc phương Tây cô lập ngoại giao và ban hành lệnh trừng phạt Trung Quốc sau sự kiện Thiên An Môn, cùng với sự thay đổi trật tự địa chính trị thế giới sau Chiến tranh Lạnh đã đặt Trung Quốc trước những quyết định ngoại giao khó khăn. Giới chức lãnh đạo thảo luận về những tình hình thực tế và cách giải quyết, nhưng ý tưởng hình thành một liên minh chống Mỹ, với sự tham gia của nước Nga non trẻ, đã không nhận được nhiều quan tâm. Gần 10 năm sau đó, năm 1999, một cuộc tranh luận nổ ra sau khi NATO đánh bom Đại sứ quán Trung Quốc ở Belgrade trong cuộc chiến Kosovo. Lần này, cuộc tranh cãi không chỉ diễn ra trong nội bộ giới lãnh đạo Bắc Kinh, mà còn diễn ra sôi nổi giữa những nhà phân tích không thuộc chính phủ. Tuy nhiên, tương tự như trước, tư tưởng liên minh đã hầu như không gây được sự chú ý nào.25
Việc những áp lực trong quá khứ khá tương tự như ngày nay, nhưng lại không đem đến sự thay đổi trong tư duy về liên minh như bây giờ đã cho thấy áp lực chỉ là một phần nguyên nhân. Phần còn lại chính là do sự tăng cường vị thế quyền lực của Trung Quốc, cũng như những thay đổi trong tranh luận nội bộ về vấn đề ngoại giao. Khi nào một đất nước muốn liên minh với nước khác? Lý thuyết cân bằng quyền lực theo chủ nghĩa hiện thực mới cho rằng đó là khi những quốc gia còn lại muốn tạo nên vị thế cân bằng với quốc gia quyền lực nhất trong hệ thống.26 Có lẽ, khoảng cách quyền lực càng lớn chừng nào thì các quốc gia yếu lại càng có xu hướng muốn tạo được sự cân bằng chừng đó, trừ khi quốc gia thống trị kia quá vượt trội đến nỗi sự cân bằng thông thường không thể hoạt động được.27 Mặt khác, thuyết cân bằng lại mối đe dọa  chỉ ra rằng các quốc gia thường liên kết chống lại quốc gia có mức độ đe dọa cao hơn, với mức độ đe dọa được xác định bởi tổng hợp những yếu tố như nguồn lực sức mạnh, sự gần kề về địa lý, khả năng gây ảnh hưởng và những chính sách cho thấy khả năng gây nguy hiểm.28
Trường hợp của Trung Quốc, tuy thế, lại đặt ra thách đố cho cả hai lý thuyết. Nếu thuyết cân bằng quyền lực là đúng, thì xu hướng cân bằng quyền lực với Mỹ đáng lẽ phải dần giảm bớt sau thời kì Chiến tranh Lạnh, vì Trung Quốc đã và đang dần bắt kịp với Mỹ về mức độ phát triển. Thế nhưng những tranh cãi về liên minh lại bùng lên vào thời điểm Trung Quốc đạt được vị trí thứ hai thế giới về kinh tế, chứ không phải lúc quốc gia này bị bỏ xa phía sau. Vì vậy, khi các nhà phân tích như Diêm Học Thông nói rằng Trung Quốc hiện gần như ở cùng cấp độ quyền lực với Mỹ và đang tạo nên một hệ thống hai cực mới, ông đang muốn nhắc đến sự cân bằng quyền lực; mặc dù, nếu nhìn từ góc độ của quyền lực tương đối thì Trung Quốc lúc này ít có nhu cầu cân bằng quyền lực hơn so với giai đoạn sau Chiến tranh Lạnh. Mặt khác, nếu thuyết cân bằng lại mối đe dọa là đúng, thì những tranh luận về liên minh lẽ ra phải xuất hiện nhiều lần từ sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Và chắc chắn một điều là những tranh cãi này đáng lẽ không thể nào căng thẳng hơn những thời điểm như năm 1999, khi mà máy bay Mỹ đã thực sự đánh bom đại sứ quán Trung Quốc.
Một nguyên nhân khác cho việc xuất hiện nhu cầu liên minh khi Trung Quốc mạnh lên là sự thông hiểu đặc biệt của nước này về chính trị liên minh. Theo đó, Trung Quốc cần phải xây dựng các liên minh khi sức mạnh của quốc gia này bằng hoặc mạnh hơn so với các đối tác liên minh; và khi Trung Quốc không quá thua kém so với quốc gia mà họ muốn cân bằng quyền lực. Các nhà phân tích Trung Quốc đã nhận thức được rằng trong những liên minh trước đây với Liên Xô và Mỹ, Trung Quốc, với tư cách là bên yếu hơn, luôn gặp bất lợi hơn, đặc biệt là trong mối quan hệ với Liên Xô. Họ do đó muốn đảo ngược sự bất đối xứng này trong những liên minh tương lai, với Trung Quốc ở phía mạnh hơn, hoặc ít nhất là cân bằng. Nhiều người cho rằng việc thiết lập liên minh với Nga sẽ không tạo ra bất kì rủi ro nào cho Trung Quốc, vì sức mạnh của họ giờ đây đã ngang ngửa và rất có thể sẽ mạnh hơn Nga trong tương lai.29 (Điều này sẽ còn đúng hơn nữa khi xét các mối liên minh khác, với các quốc gia yếu hơn). Những nhà phân tích cũng tin rằng khả năng hiện nay của Trung Quốc sẽ biến liên minh thành một chiến lược hiệu quả và quan trọng giúp họ cân bằng quyền lực với Mỹ, chứ không như thời điểm đầu những năm 1990, khi cân bằng bên ngoài không giúp gì nhiều cho Trung Quốc vì sự yếu kém về vật lực của họ. Dưới góc nhìn này, tư duy mới về liên minh được kích thích bởi vị trí quyền lực được củng cố của Trung Quốc sau ba thập kỉ phát triển chóng mặt về kinh tế. Đối với nhiều nhà phân tích Trung Quốc, đạt được vị trí thứ hai trong quyền lực quốc tế là ngưỡng giới hạn để cân bằng bên ngoài bắt đầu phát huy tác dụng, khi họ không quá thua kém nước đứng đầu – đối thủ để cân bằng quyền lực, và mạnh hơn phần còn lại – những nước có thể thành đồng minh.
Cuối cùng, tư tưởng mới về liên minh cũng là một hệ quả của sự thiếu kiên nhẫn, không thỏa mãn và giận dữ của những nhà phân tích với những chính sách hiện tại. Sự giận dữ đã không ngừng tăng từ cuối thập niên 1990, một phần do Trung Quốc nới lỏng kiếm soát những cuộc thảo luận giữa các học giả. Sự vắng mặt của những ý tưởng liên minh trong giai đoạn 1989-92 có thể được lý giải một phần bởi sự yếu kém của Trung Quốc. Một nguyên nhân khác quan trọng hơn nhiều là do sự xuất hiện của một tư tưởng ngoại giao chính thống mới được đặt ra và bảo trợ bởi Đặng Tiểu Bình, đó là chính sách thao quang dưỡng hối đã được nhắc đến ở phần trên. Tư tưởng ngoại giao này bao gồm cả nguyên tắc không liên kết, thông qua việc giấu mình chờ thời, ủng hộ cách tiếp cận thụ động và dè chừng. Chủ trương ngoại giao này thực sự phát huy tác dụng vào giai đoạn thập niên 1990. Tuy vậy, ngày nay, tính hữu ích của nó đã bị đặt một dấu hỏi bởi một lượng đông đảo những nhà phân tích cánh tả và cánh hữu. Phe cấp tiến, vốn ủng hộ quan điểm liên minh mới, chỉ ra rằng những chính sách ngoại giao cũ thời ông Đặng Tiểu Bình đã không còn phát huy tác dụng, và thậm chí, nó còn trói buộc chính sách ngoại giao Trung Quốc trong sự nhu nhược. Một lần nữa, Diêm Học Thông lại chứng minh vì sao ông là một nhà phê bình nổi tiếng. Ông cho rằng một chính sách đối ngoại chú trọng phát triển kinh tế quốc gia sẽ trở nên lỗi thời một khi những lợi ích về an ninh trở thành vấn đề cấp thiết hơn những lợi ích về kinh tế. Và giải pháp liên minh không chỉ là một sự phản ứng lại tình trạng xấu đi của môi trường an ninh Trung Quốc, mà nó cũng được ca ngợi là sẽ cứu vãn những thất bại trong chính sách đối ngoại gần đây của nước này. Cụ thể hơn, ông cho rằng thiết lập quan hệ đồng minh có thể tăng cường thẩm quyền đạo đức và mức độ khả tín chiến lược của Trung Quốc, mà việc thiếu những phẩm chất này được coi là những vấn đề nghiêm trọng trong môi trường quốc tế ngày nay.30 Đối với Diêm và một số nhà phê bình trực ngôn khác, sự bất mãn với chính sách hiện thời trở nên sâu sắc hơn bởi chính phủ có vẻ vẫn gắn bó với tư tưởng ngoại giao đã 20 năm tuổi của ông Đặng Tiểu Bình và làm ngơ trước những lời kêu gọi quyết liệt từ phía những nhà phân tích.