Thứ Tư, 13 tháng 8, 2014

Bao nhiêu quan Việt được trộm ghé thăm... cuỗm tiền tỷ?

Có ông quan tỉnh giấu dưới gầm giường 65 cây vàng, cán bộ thuế lộ 12 sổ tiết kiệm trị giá 5 tỷ đồng... Tất cả bị trộm khoắng sạch.
Chỉ đến khi kẻ trộm ra tay, thiên hạ mới biết các vị quan chức này sở hữu khối tài sản không nhỏ so với đồng lương công chức.
Giám đốc Sở TN-MT TP HCM bị trộm cuỗm 1,6 tỷ đồng
Ngày 11/8, Công an quận 1, TP HCM cho biết đang điều tra vụ giám đốc Sở Tài nguyên & Môi trường TP HCM, ông Đào Anh Kiệt, bị trộm 1,6 tỷ đồng và 30.000 USD tại cơ quan.
Bước đầu ông Đào Anh Kiệt khẳng định nguồn gốc số tiền bị mất là tiền ông tích góp suốt 37 năm làm việc và tiền của vợ dành dụm vừa rút ra từ ngân hàng để mua căn nhà chung cư cho con trai.
 Ông Đào Anh Kiệt, Giám đốc Sở TN-MT TP HCM.
Đây không phải là lần đầu tiên quan chức lộ tài sản lớn sau khi bị trộm. Trước đó đã có hàng chục vụ án quan chức, lãnh đạo bị trộm đột nhập vào nhà, cuỗm hàng khối vàng, tiền, thậm chí lấy cả ô tô đi mà không hề hay biết. Có những ông chỉ là quan chức huyện nhưng tài sản bị trộm lên tới cả chục tỷ đồng khiến không ít người choáng váng.
Nhà Trưởng ban Quản lý dự án bị trộm khoắng 1,5 tỷ
Tháng 2/2013, trộm đã đột nhập nhà riêng ông Phạm Minh Tú, Trưởng Ban quản lý dự án huyện Đông Hải (Bạc Liêu), ở thị trấn Giá Rai, huyện Giá Rai (Bạc Liêu) lấy trộm tài sản với trị giá khoảng 1,5 tỷ đồng trong két sắt. Ông Tú trình báo, tài sản trên gồm 1 tỷ đồng tiền mặt của nhiều doanh nghiệp gửi để qua Tết nộp ngân sách, 4.000 USD của cha mẹ vợ ông Tú và tiền, vàng là tài sản của gia đình.
Điều đáng nói, bọn trộm đột nhập nhà ông Tú có liên quan đến hàng loạt vụ trộm trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng, Hậu Giang, Cần Thơ, Trà Vinh... Chúng chỉ tìm đến nhà cán bộ khá giả hoặc tiệm vàng để trộm.
“Siêu trộm” đột nhập hàng chục nhà quan chức, cuỗm 10 tỷ đồng
Vụ án “siêu trộm” Đặng Ngọc Tân (SN 1982, Đà Nẵng) thu hút sự chú ý của dư luận bởi số lần trộm cắp và số tài sản rất lớn. Đặc biệt, “siêu trộm” này chỉ thích đột nhập nhà quan chức.
Cụ thể, từ tháng 3/2008 đến tháng 4/2011, Tân đã 45 lần đột nhập tư gia các doanh nhân, quan chức và thành công 36 vụ, chiếm đoạt hơn 10 tỷ đồng. Trong danh sách hàng loạt nạn nhân có một vị giám đốc sở (bị mất 110 cây vàng miếng SJC), con trai của một vị chủ tịch thành phố…
 Siêu trộm Đặng Ngọc Tân tại tòa. 
Toàn bộ tiền trộm được, Tân mua ô tô hiệu Venza với giá hơn 1,53 tỷ đồng và mua căn nhà 3 tầng tại tổ 10, phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn.
Tại tòa, “siêu trộm” này khai nhà đại gia, quan chức mới lắm tiền nhiều của chứ nhà dân thường lấy đâu ra tiền mà đột nhập vào “cho mất công”.
Ngày 10/6/2013, Đặng Ngọc Tân bị tuyên án chung thân về tội trộm cắp tài sản. Vợ của Tân lĩnh 7 năm tù vì tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đồng bọn của “siêu trộm” này cũng phải lĩnh 14 năm tù.
Trộm "vớ bở" valy vàng trị giá gần 3 tỷ dưới gầm giường quan tỉnh
Hồi giữa tháng 7/2014, TAND tỉnh Gia Lai tuyên phạt tổng cộng gần 72 năm tù cho 4 bị cáo gồm: Nguyễn Mạnh Quân, Lê Đình Đạt, Nguyễn Quốc Nam, Nguyễn Ngọc Thuận cùng về tội “trộm cắp tài sản”.
Cách đây hơn 1 năm, 4 đối tượng trên đã thực hiện vụ trộm cắp tại nhà riêng của vợ chồng ông Đặng Xuân Thọ - Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Kon Tum và bà Trần Thị Xuân Lan - Trưởng phòng tổ chức Cục thuế tỉnh Gia Lai. Trong lúc tìm kiếm, Quân phát hiện dưới gầm giường một valy khóa số, bên trong có nhiều vàng thẻ đóng gói thành dây bọc trong túi nilon, nhiều nhẫn vàng, bông tai, lắc vàng, dây chuyền vàng... Tổng số tài sản do nhóm trộm lấy tại nhà ông Thọ khoảng 2,792 tỷ đồng.
 Lê Đình Đạt lúc bị cơ quan điều tra bắt giữ.
Vụ trộm xảy ra khi gia đình bà Lan đang đi du lịch. 5 ngày sau bà Lan trở về phát hiện nhà bị trộm “viếng thăm”, lấy đi nhiều tài sản quý giá nhưng bà lại trình báo lên Công an phường Yên Đổ (TP Pleiku) là bị trộm đột nhập nhà, nhưng không mất tài sản. Khoảng một tuần sau, bà Lan lại có đơn trình báo gửi Công an TP Pleiku, vào đêm 31/12/2012, nhà bà bị kẻ trộm đột nhập lấy cắp 5 cây vàng.
Vụ quan tỉnh mất trộm này đã gây xôn xao dư luận suốt một thời gian dài. Người dân nơi phố núi trong các cuộc “trà dư tửu hậu” vẫn đưa câu chuyện quan tỉnh mất trộm để nói vui rằng “mất trộm, lòi vàng nhà quan”.
Cán bộ thuế bị trộm hơn 6 tỷ đồng
Ngày 5/12/2011, nhà một cán bộ chi cục Thuế ở TP HCM bị trộm đột nhập. Chiếc két sắt trong phòng ngủ bị cạy, tài sản bên trong biến mất.
Theo trình báo của nạn nhân, tên trộm đã lấy đi 10 lượng vàng SJC, 2 bông tai hột xoàn, 1 nhẫn kim cương, 6.000 USD, 12 cuốn sổ tiết kiệm trị giá 5 tỷ đồng đứng tên người vợ. Tổng giá trị số tài sản này là hơn 6 tỷ đồng.
Trộm “viếng thăm”, giám đốc sở mất hơn 1 tỷ đồng
Ngày 30/5, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Kạn đã bắt 3 đối tượng vì liên quan tới vụ trộm cắp ở nhà một giám đốc sở ở tỉnh Bắc Kạn.
Theo trình báo của nạn nhân, ngày 7/5, nhà bà bị kẻ gian đột nhập, trộm 40.000 USD, 5 cây vàng SJC, 1 lắc tay, đôi nhẫn cưới vàng và gần 100 triệu đồng tiền mặt.
Trộm “cuỗm” 57 lượng vàng ở nhà cán bộ tỉnh
Ngày 25/6/2013, ba tên trộm đã đột nhập vào nhà một nữ cán bộ văn phòng UBND tỉnh Nghệ An và lấy đi 57 lượng vàng cùng 50 triệu đồng tiền mặt.
Chồng nạn nhân là cảnh sát giao thông thuộc Công an tỉnh Nghệ An, đã về hưu.

Thứ Ba, 12 tháng 8, 2014

Bật mí lực lượng chiến đấu cho Kiev ở miền đông Ukraine

        Có nhiều vấn đề với lực lượng thân Kiev ở miền đông bao gồm quân đội, cận vệ quốc gia, Right Sector và các tiểu đoàn phòng vệ lãnh thổ.
      Cuộc khủng hoảng ở miền Đông Ukraine mà thoạt đầu Bộ trưởng Bộ Nội vụ Ukraine Arsen Avakov hứa sẽ giải quyết hoặc bằng đàm phán, hoặc bằng vũ lực trong vài ngày đã kéo dài ba tháng rưỡi. Chiến dịch quân sự bắt đầu giữa tháng 4 chống lại những người không vừa lòng với cuộc đảo chính nhà nước hồi tháng 2 của dân chúng khu vực đã mang đến nhiều thương vong cho cả hai bên, trong đó có dân thường và, theo ý kiến các chuyên gia, từ lâu đã biến thành cuộc nội chiến.
Binh sĩ Ukraine, hơn dân quân mấy lần cả về quân số, cả về trang bị kỹ thuật quân sự, hiện không thể nắm lấy quyền kiểm soát Đông– Nam đất nước. Quân đội Ukraine tiếp tục đánh phá bằng pháo binh vào Donetsk, Lugansk và Gorlovka, các trận đánh trên đường phố diễn ra ở Avdeevk và Shakhtiorsk.  Hôm 29/7, kênh truyền hình CNN, dựa vào nguồn trong tình báo Mỹ thông báo, là binh sĩ Ukraine ở miền Đông Ukraine bắt đầu sử dụng tên lửa đạn đạo– vũ khí có sức phá hủy lớn nhất được sử dụng cho đến nay trong cuộc xung đột. Hãng tin Deutsche Welle hôm 01/8 dựa vào đại diện cơ quan báo chí của NATO đã tuyên bố là liên minh này xác nhận việc quân đội Ukraine đã sử dụng các tên lửa này.
Binh sĩ Ukraine sử dụng súng bắn tỉa ở Donetsk.
        Theo nguyên quyền Bộ trưởng Quốc phòng Ukraine Igor Tenyukh, quân đội Ukraine đã bước vào năm 2014 trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu “thấp không đạt yêu cầu”. Không lâu sau khi có sự thay đổi chính quyền ở Kiev, ông này đã soạn một báo cáo đặc biệt cho ban lãnh đạo đất nước mới, báo cáo đã chỉ rõ “tình trạng huấn luyện binh sĩ đáng buồn”, “các phân đội không được biên chế đủ chuyên gia quân sự” và “sự thiếu trang bị kỹ thuật hoạt động được và vũ khí”. Phần lớn tăng thiết giáp là những xe đã hao mòn vô hình hoặc lạc hậu mà Ukraine có được sau khi Liên Xô tan rã. Các chuyên gia đánh giá vũ khí duy nhất có hiệu quả thực sự để tiêu diệt sinh lực đối phương là các hệ thống pháo phản lực bắn loạt BM– 21.
         Theo tin của bộ Quốc phòng Ukraine, đầu tháng 1/2014 việc đảm bảo cho binh sĩ các vật dụng quân trang chủ yếu ở mức 4% nhu cầu, còn một số loại quân trang, trong đó có áo giáp chống đạn và mũ chống đạn bắn thẳng nói chung không có. Tổng thống Ukraine Petro Poroshenko vừa phải thông báo, là chính quyền hàng ngày tiêu hơn 5,8 triệu USD để tiến hành chiến dịch đặc biệt, trước đó Bộ Tài chính Ukraine đưa ra số liệu 128 triệu USD một tháng.
Tuy nhiên, bất chấp những vấn đề hiện có, các chuyên gia cho rằng không thể đánh giá thấp binh sĩ Ukraine và trình độ trang bị kỹ thuật của các đơn vị vũ trang.
Các Lực lượng vũ trang Ukraine
        Lực lượng chủ yếu của các đơn vị của các Lực lượng vũ trang Ukraine tham gia chiến dịch quân sự ở Đông– Nam đất nước mà Kiev là các lữ đoàn cơ động đường không. Theo tin từ một số nguồn, bên phía Quân đội Ukraine có ba binh đoàn như vậy: đó là các lữ đoàn cơ động đường không số 72 và 79 đóng quân ở tỉnh Donetsk, và lữ đoàn cơ động đường không số 80 đóng quân gần Kharkov.
Quân đội Ukraine tham chiến ở miền đông. 
         Ngoài ra, trong Quân đội Ukraine có 2 lữ đoàn bộ binh cơ giới được trang bị tăng thiết giáp hạng nặng– đó là lữ đoàn bộ binh cơ giới số 24 đóng quân ở tỉnh Kharkov và lữ đoàn số 30 đóng quân ở Zaporozhiye. Ngoài các lữ đoàn cơ giới và đường không, cuộc chiến chống kẻ thù của chế độ Kiev còn do quân của trung đoàn cơ giới của Bộ đội bộ Nội vụ Ukraine tiến hành.
Quân đội Ukraine được trang bị vũ khí bộ binh tự động, súng phóng lựu cầm tay. Họ có tăng thiết giáp, pháo binh, hệ thống pháo phản lực bắn loạt, các tổ hợp tên lửa phòng không, cũng như không quân chiến thuật, tất cả những thứ này mang lại ưu thế đáng kể so với dân quân không có không quân.
          Hôm 31/7, chính phủ Ukraine đã quyết định dành cho quân đội 791 triệu USD từ quỹ dự trữ ngân sách, còn bộ Tài chính Ukraine đã phát hành công trái trị giá 4,12 triệu USD– tiền thu được sẽ được bộ này đưa vào ngân sách để “cấp kinh phí cho các Lực lượng vũ trang và củng cố tiềm năng quốc phòng của nhà nước”. Ngoài ra, quốc hội Ukraine trong phiên họp kín ngày 31/7 đã thay đổi luật thuế, theo đó Ukraine sẽ có việc thu quân sự lâm thời ở mức 1,5% lương của các công dân đang làm việc. Chính phủ có kế hoạch thu được từ khoản này 241 triệu USD, dự kiến sẽ chi cho các Lực lượng vũ trang.
“Các tiểu đoàn phòng vệ lãnh thổ”
           Cùng trong hàng ngũ với binh sĩ Ukraine trong xung đột ở Đông– Nam đất nước còn có các tiểu đoàn gọi là phòng vệ lãnh thổ, phần lớn được tài trợ bởi giới kinh doanh lớn và trung bình. Theo tin của các phương tiện thông tin đại chúng, riêng chỉ trên lãnh thổ tỉnh Donetsk có tám đơn vị như vậy tham chiến với dân quân. Một phần trong đó được doanh nhân Ukraine nổi tiếng Igor Kolomoiskiy tài trợ. Theo tin của tạp chí Forbes, ông này mỗi tháng chi gần 10 triệu USD từ tài khoản của mình để trả lương cho 3 nghìn chiến binh và nuôi dưỡng, cấp quân trang và nhiên liệu cho họ. Ngoài ra, các đơn vị tương tự như vậy nhận tiền tài trợ của thị trưởng Kiev Vitaliy Klichko và thủ lĩnh đảng Cấp tiến Oleg Lyashko.
Doanh nhân Ukraine nổi tiếng Igor Kolomoiskiy mỗi tháng chi 10 triệu USD cho chiến dịch miền đông.
         Cụ thể, tham gia vào chiến dịch đặc biệt có tiểu đoàn Artemovsk có gần 50 quân do Konstantin Mateichenko chỉ huy, tiểu đoàn Dnepr– 1 quân số gần 300 người, tiểu đoàn Dnepr– 2, tiểu đoàn Donbass đứng đầu là Semen Semenchenko, tiểu đoàn phòng vệ lãnh thổ Kiev– 1, tiểu đoàn phòng vệ lãnh thổ Prikarpatiye, tiểu đoàn phòng vệ lãnh thổ Ukraine quân số gần 100 người, cũng như tiểu đoàn Kharkov– 2.
        Đầu tháng 7,  hãng tin Ucrinform đưa tin, là tiểu đoàn tình nguyện Azov quân số 300 người cũng do Kolomoiskiy tài trợ đã được chuyển đến tỉnh Donetsk– trước đó nó có 2 tháng ở Berdyansk tỉnh Zaporozhiye. Ở tỉnh Lugansk có tiểu đoàn phòng vệ lãnh thổ Aidar quân số gần 150 người. Tiểu đoàn này được thành lập hồi tháng 5 năm nay, gồm lính tình nguyện ở các tỉnh Lugansk, Volyn, Kharkov và Ivano– Frankovsk, Crimea, Donetsk và Kiev, cũng như những thành viên tích cực của Maiđan.
          Theo thông báo của bộ Quốc phòng Ukraine, ngày 17/6 tiểu đoàn Aidar không hợp đồng với chỉ huy chiến dịch đặc biệt đã quyết định tổng công kích dân quân ở Lugansk, nhưng rơi vào phục kích và dù đã có viện binh đến vẫn bị thương vong nặng. Người đứng đầu nước cộng hòa nhân dân Lugansk tự xưng Valeriy Bolotov tuyên bố, là dân quân thực tế đã tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn Aidar. Sau vụ này Bộ Quốc phòng Ukraine đã gọi số còn lại về và quyết định giải thể nó, tuy nhiên Tổng thống đã dừng quyết định này lại.
           Theo chủ tịch Trung tâm Phân tích địa chính trị quốc tế thượng tướng Leonid Ivashov, các đơn vị của Kolomoiskiy trang bị kém hơn quân chính quy, song họ cũng có súng bộ binh tự động, súng phóng lựu cầm tay, tăng thiết giáp, pháo binh đi cùng và hệ thống pháo phản lực bắn loạt. Ông Ivashov nói: “Đây là các loại vũ khí mới mua sắm, nhưng số lượng được trang bị không nhiều”.
Theo tin của tổng biên tập tạp chí “Phòng vệ quốc gia” Igor Korotchenko dựa vào các nguồn tin quân sự Ukraine của mình, hồi tháng 5 năm nay các tiểu đoàn của Kolomoiskiy đã nhận được vũ khí bộ binh, súng phóng lựu, xe tăng và phương tiện phòng không PVO theo chỉ thị của tổng thống.
Korotchenko nói với RIA Novosti: “Cụ thể đã chuyển giao 6 xe tăng T– 64, 9 xe chiến đấu bộ binh, 12 xe phóng tên lửa bắn loạt Grad, cũng như các tổ hợp tên lửa phòng không Strela– 10, Shilka và Buk".
Cận vệ Quốc gia và Right sector
         Ngoài quân đội và các tiểu đoàn phòng vệ lãnh thổ, bên phía binh sĩ Ukraine còn có sự tham chiến của Cận vệ Quốc gia và Right sector.
Cận vệ Quốc gia Ukraine là các đơn vị vũ trang trong tổ chức của Bộ Nội vụ Ukraine được khôi phục lại sau các sự kiện ở Crimea, bao gồm đại diện của Bộ đội bộ Nội vụ, chiến binh của cái gọi là tự vệ của Maiđan và thành viên các tổ chức dân tộc cực đoan. Chủ yếu Cận vệ Quốc gia là bộ binh nhẹ, tác chiến khi có thiết giáp yểm hộ. Quân số của Cận vệ Quốc gia hơn 30 nghìn người, theo giới quân nhân Ukraine, trong tương lai lực lượng này có thể lên đến 60 nghìn.
Các lực lượng chủ yếu của các phân đội Cận vệ Quốc gia– gần 3 nghìn người– tập trung ở gần Lugansk. Còn một đơn vị quân số gần 200 người kiểm soát điểm dân cư Belolutsk trong tỉnh Lugansk. Cận vệ Quốc gia thực tế được trang bị như quân chính quy: binh sĩ có súng bộ binh tự động, súng phóng lựu cầm tay, tăng thiết giáp, pháo binh, hệ thống pháo phản lực bắn loạt, các tổ hợp tên lửa phòng không và không quân.
          Chủ tịch liên hiệp cựu binh các phân đội chống khủng bố Alpha Sergei Goncharov nhận định, là Cận vệ Quốc gia nhận được sự cung cấp thêm đáng kể từ khối tài chính do Mỹ viện trợ. Đồng thời chuyên gia này không coi lực lượng này là nguy cơ đáng kể. Theo ông này, Cận vệ Quốc gia là “tập hợp những kẻ đánh nhau vì tiền”, vì vậy không thể đánh giá đó là một đơn vị vũ trang nghiêm túc.
Thành viên Right sector – nhóm cực hữu không có tổ chức chính thức được đăng ký hoạt động tập hợp những thành viên tích cực của nhiều tổ chức dân tộc cực đoan Ukraine– đã trở nên nổi tiếng trong xung đột với Bộ đội bộ Nội vụ Ukraine và phân đội đặc nhiệm của Ukraine trong các hoạt động phản kháng ở Maiđan tại Kiev. Hiện các đội Right sector quân số mỗi đội khoảng 40 người hoạt động ở các tỉnh Donetsk và Lugansk. Họ được trang bị vũ khí bộ binh tự động và thiết giáp.
Những vấn đề chính
          Bất chấp sự đa dạng của trang bị kỹ thuật không quân và bộ binh có trong trang bị của quân đội Ukraine, trong những tháng xung đột đầu tiên ở Đông– Nam đất nước đã thấy rõ sự sẵn sàng chiến đấu thấp của các phân đội. Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng này là bộ Quốc phòng cung cấp không đủ kinh phí và, như là hệ quả, là thiếu kinh phí để cải tiến và mua sắm vũ khí mới.
Theo cựu quân nhân đặc nhiệm Sergei Goncharov, nguy cơ quân sự nghiêm trọng nhất trong xung đột ở Đông– Nam đất nước là hỏa lực còn lại của quân đội Ukraine. Goncharov nói: “Như chúng ta thấy, họ ít khi đánh trực diện với dân quân, họ gây sức ép bằng hỏa lực mà họ có trong tay”. 
Chủ tịch Trung tâm phân tích địa chính trị quốc tế thượng tướng Leonid Ivashov cho rằng chưa hề có bất cứ sự đổi mới đáng kể nào trong quân đội Ukraine từ thời Liên Xô đến nay. Ông Ivashov giải thích: “Họ mặc quân trang cũ. Vâng, có thêm trong trang bị mấy chiếc xe tăng hiện đại, nhưng chỉ có vậy thôi”. Đồng thời ông Ivashov đánh giá, là tuy vậy quân đội Ukraine trang bị tốt hơn các lực lượng khác đang đánh nhau với dân quân.
         Liên quan đến hiệu quả của các tổ chức quân sự tư nhân thì theo các chuyên gia, theo kết quả hai tháng nó vẫn ở mức cũ. Các chuyên gia giải thích việc này là do sự thiếu các chuyên gia được huấn luyện để có khả năng khai thác sử dụng trang bị kỹ thuật quân sự phức tạp, việc phải huấn luyện thêm ngay trong thời chiến dẫn đến tai nạn. Ngoài ra, chỉ huy các tiểu đoàn phòng vệ lãnh thổ không tham gia lập kế hoạch tác chiến của cụm quân tham gia ATO (АТО– Chiến dịch chống khủng bố), tự ra quyết định sử dụng vũ khí.
         Đương nhiên các tiểu đoàn phòng vệ lãnh thổ không có các chỉ lệnh và chỉ thị tác chiến như trong quân đội, nguồn tin ở bộ Quốc phòng Ukraine khẳng định với RIA Novosti. Do đó, theo nguồn tin này, các đội quân sự hóa ngay hiện nay đã được dùng để phân chia khu vực ảnh hưởng, chiếm đoạt các xí nghiệp và phân xử với các đối thủ cạnh tranh không được ưa thích, mà khu vực sử dụng vượt xa khỏi ATO. Nguồn tin này nói: “Điều này thật đáng buồn, bởi vì cái được mang ra đổi chác không còn chỉ là một tổ chức như Berkut  mà là cả quân đội”.

Thứ Hai, 11 tháng 8, 2014

Nỗi ám ảnh đại dịch khiến 50 triệu người tử vong

          Gần 1/2 dân số thế giới nhiễm bệnh, số người chết ước tính lên đến 50 triệu, đó là những gì đại dịch cúm Tây Ban Nha gây ra.
Xuất hiện vào tháng 3/1918, sau đó lan nhanh qua nhiều quốc gia trên thế giới, dịch cúm mang tên Tây Ban Nha đã trở thành nỗi ám ảnh toàn cầu, kinh khủng hơn cả Chiến tranh thế giới 1.
Đại dịch cúm năm 1918 - tên thông thường là cúm Tây Ban Nha - là một đợt dịch truyền nhiễm lan rộng tới hầu hết mọi vùng trên thế giới.
 Hình ảnh về các nạn nhân cúm năm 1918 được điều trị tập trung.
Virus cúm A/H1N1 chính là nguyên nhân gây bệnh. Trong khi các dịch cúm khác thường tấn công những người cao tuổi, ốm yếu thì hầu hết nạn nhân của dịch cúm Tây Ban Nha là những người trẻ và khỏe mạnh.
Đợt cúm này kéo dài từ tháng 3/1918 đến tháng 6/1920, lan tới tận Bắc Cực và các hòn đảo xa xôi thuộc Thái Bình Dương.
Sở dĩ có nhiều tử vong là vì dịch cúm lần này rất mạnh. Khoảng 50% những người có tiếp xúc với người bị cúm bị lây bệnh và khi bị lây có triệu chứng rất trầm trọng.
Vì triệu chứng trầm trọng khác cúm thường nên lúc bấy giờ, người ta đoán bệnh sai lạc như bệnh sốt xuất huyết Dengue, kiết lỵ hay thương hàn tuy phần lớn tử vong là do các loại vi trùng bội nhiễm lúc bệnh nhân đang bị cúm, sức đề kháng bị suy giảm gây viêm phổi, một số viêm phổi do chính virut cúm gây tổn thương phổi rất trầm trọng.
 Tự trang bị các vật dụng để tránh lây lan dịch cúm năm 1918.
Theo ước tính, đại dịch cúm Tây Ban Nha vào năm 1918 tấn công gần 1 tỷ người - một nửa dân số thế giới lúc đó - vượt qua cả đại dịch "cái chết Đen" thời Trung Cổ.
Mặc dù dịch bệnh bắt nguồn từ Viễn Đông, song nó vẫn được gọi là cúm "Tây Ban Nha", do chính đất nước này đã đưa ra lời cảnh báo đầu tiên về sức tàn phá của nó. Người ta còn cho rằng, virus 1918 có thể đã góp phần đưa Đại chiến Thế giới đến hồi kết, do phần lớn quân lính hai phe bị chết vì cúm nhiều hơn vì vũ khí.
Theo các sử gia, Tổng thống Mỹ lúc đó là Woodrow Wilson đã phải sử dụng một liều thuốc chống cảm cúm khi ông đến Paris bàn thảo các điều khoản chi tiết của hiệp ước Versailles.
Và nếu như ông Wilson không bị bệnh cúm hành hạ thì các điều khoản của hiệp ước này không đến nổi quá khắt khe với phe thất trận như thế và nhân loại đã có thể tránh được Chiến tranh thế giới 2 sau này.

Tư duy mới của Trung Quốc về liên minh

http://globaleconomicwarfare.com/wp-content/uploads/2013/05/russia-china-syria-afp-670.jpg
Tháng 12 năm 1949, Mao Trạch Đông – lãnh đạo tối cao của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa non trẻ – đã có chuyến thăm đến Matxcơva để thương lượng trở thành đồng minh quân sự với Liên Xô. Tuy nhiên, trong vòng chưa đến hai thập kỉ sau đó, liên minh quân sự Xô – Trung đã không những sụp đổ mà còn biến thành thế đối đầu căng thẳng cả về quân sự và ý thức hệ. Những nhu cầu cấp bách mang tính chiến lược của đất nước đã buộc giới lãnh đạo Trung Quốc phải xích lại gần với Hoa Kỳ, và từ sau năm 1972, tạo nên một mô hình bán liên minh giữa 2 quốc gia từng có quá khứ thù địch này. Tháng 1 năm 1979, trong chuyến thăm Washington, ông Đặng Tiểu Bình đã tìm cách lôi kéo Hoa Kỳ để phát triển quan hệ hai nước thành đồng minh không chính thức trên thực tế nhằm đảm bảo được Hoa Kỳ ủng hộ trong cuộc xâm lược Việt Nam sắp đến của Trung Quốc. Trong thập kỉ cuối của Chiến tranh Lạnh, Trung Quốc và Hoa Kỳ cũng duy trì quan hệ ở mức hợp tác chiến lược nhằm chống lại Liên Xô.
Hồ sơ của Trung Quốc về chính trị liên minh thời kì Chiến tranh Lạnh do vậy quả thực rất ấn tượng. Tuy vậy, vào những năm đầu của thập niên 1980, mặc dù quan hệ bán liên minh với Hoa Kỳ vẫn được duy trì một cách hạn chế, nhưng những ngôn từ về vấn đề liên minh quân sự đã không còn xuất hiện trong phát ngôn chính thức. Trên thực tế, chủ trương liên minh đã bắt đầu suy giảm khi quan hệ Xô – Trung xấu đi vào cuối những năm 1950, và cuối cùng kết thúc vào năm 1982 khi Đại hội Đảng lần thứ 12 đặt ra “chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập và tự chủ”. Bắc Kinh tuyên bố theo đuổi nguyên tắc không liên kết trong quan hệ với Hoa Kỳ và Liên Xô, nhằm thực hiện chính sách ngoại giao độc lập.2 Có thể nói đây là một bước ngoặt trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc: từ những năm cuối cùng của Chiến tranh Lạnh khi Trung Quốc thực hiện cải cách kinh tế, rồi đến những thay đổi của thập niên 1990 giúp nền kinh tế Trung Quốc phát triển vượt bậc cho đến tận ngày hôm nay, khi quốc gia này đã đánh dấu sự hiện diện một cách rõ ràng trên trường quốc tế, nguyên tắc ngoại giao nhất quán của Bắc Kinh là không liên minh, và xem chính sách liên minh là một di sản của thời kỳ Chiến tranh Lạnh không phù hợp với đạo đức Trung Hoa.
Tuy thế, quan điểm liên minh đang dần trở lại trong cộng đồng học giả và những nhà làm chính sách của Trung Quốc. Những học giả lớn đang đề nghị đánh giá lại nguyên tắc không liên kết trong chính sách đối ngoại của quốc gia. Mặc dù đây chỉ là những ý kiến bên lề, vài năm gần đây luồng tư tưởng mới về liên minh đã xuất hiện và được cổ vũ bởi một số học giả nghiên cứu quan hệ quốc tế nổi tiếng. Vì sao tư tưởng liên minh quay trở lại bàn nghị luận? Tư tưởng này có thể tạo ra những tác động nào đến chính sách? Nguồn gốc đem đến quan điểm mới về liên minh của Trung Quốc về cơ bản cũng tương tự như những nguồn gốc chính sách liên minh trong thời kì Chiến tranh Lạnh: họ cảm thấy bị thúc đẩy bởi những áp lực mang tính chiến lược từ thay đổi trong cấu trúc hệ thống quốc tế. Cũng giống như áp lực từ Hoa Kỳ ngay sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai buộc Trung Quốc phải liên minh với Liên Xô, hay như áp lực từ Liên Xô trong những năm cuối thập kỉ 1960 buộc Trung Quốc phải tìm kiếm liên minh với Mỹ, thì giờ đây, áp lực từ việc Mỹ tăng cường ảnh hưởng tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương – cái mà Mỹ gọi là “xoay trục về châu Á”3 – đã thúc đẩy những nhà bảo thủ ở Trung Quốc phải xem xét lại khả năng sử dụng phương án liên minh như là một lựa chọn trong chiến lược mới của Trung Quốc. Tuy vậy, chúng ta cần phải thảo luận về các nguyên do khác của tư tưởng liên minh mới của Trung Quốc, cũng như giá trị tư tưởng và tác động chính sách của sự thay đổi này.
Quan điểm mới
Trong số những người có đóng góp cho dòng quan điểm về quan hệ quốc tế không chính thống của Trung Quốc đương đại, Diêm Học Thông (Yan Xuetong) từ đại học Thanh Hoa  có thể được xem là một trong những nhân vật gây tranh cãi nhất và ủng hộ mạnh mẽ những chính sách ngoại giao phi chính thống.4 Ông cũng là người kiên định nhất trong số những nhà phân tích Trung Quốc bảo vệ quan điểm liên minh và đã bắt đầu đề xuất ý tưởng này từ năm 2009.5 Năm kế đó, trong một cuộc nói chuyện với sinh viên, ông Diêm nhấn mạnh chủ trương không liên minh là một điểm yếu rất lớn trong chính sách đối ngoại Trung Quốc vì nó đã ngăn cản Trung Quốc cải thiện quan hệ với các nước láng giềng. Quan điểm này dựa trên lý luận có vẻ nghịch lý rằng, khi Trung Quốc trỗi dậy làm tình thế lưỡng nan về an ninh tại Đông Á trở nên nghiêm trọng hơn, một chính sách liên minh tạo ra sự đảm bảo an ninh của Trung Quốc với các quốc gia láng giềng có thể sẽ là cách tốt nhất để làm giảm nhẹ đi sự hoài nghi của họ về sức mạnh Trung Quốc, từ đó giúp tình trạng căng thẳng trong khu vực dịu đi.6
Trong một bài viết được đăng năm 2011 trên Hoàn Cầu Thời Báo, nơi Diêm là cộng tác viên thường trực, ông ta đã tranh luận rằng sự phân phối quyền lực trên thế giới hiện nay thực chất đang phát triển theo hướng “nhị siêu – đa cường” hơn là đa cực (ít nhất là về vật lực), với Trung Quốc và Mỹ dẫn đầu trật tự thế giới.7 Cũng cần lưu ý rằng Diêm đã từng là một thành viên tham gia tích cực trong những cuộc tranh luận chiến lược của Trung Quốc về trật tự thế giới trong nửa đầu thập niên 1990. Các cuộc tranh luận này đã gần đạt được sự nhất trí trong nội bộ Trung Quốc rằng hệ thống quốc tế những năm 1990 được đặc trưng bởi tính chất “nhất siêu – đa cường” với Mỹ là siêu cường duy nhất và Trung Quốc nằm trong phần “đa cường” còn lại. Ở thời điểm hiện tại, sự phát triển kinh tế liên tục của Trung Quốc đã làm cho Diêm cân nhắc lại những đánh giá trước đó của mình, từ đó ủng hộ ý tưởng về một hệ thống lưỡng cực mới nổi lên. Tuy vậy, xét về mặt trật tự chiến lược quốc tế, ông Diêm lại bi quan cho rằng thế đơn cực của Mỹ đã được củng cố mạnh mẽ hơn chứ không hề bị suy yếu, chủ yếu là do chính sách ngoại giao khôn ngoan mà chính quyền Obama đang thực hiện. Diêm cũng cho rằng Trung Quốc hiện là quốc gia duy nhất trên thế giới có thể thách thức hệ thống đơn cực chiến lược xoay quanh Mỹ, bằng cách thiết lập liên minh với Nga.
Năm 2012, Diêm đẩy mạnh kêu gọi chính phủ thay đổi nguyên tắc ngoại giao. Trong một bài báo viết về vấn đề Biển Đông đăng trên tạp chí Vấn Đề Thế Giới (World Affairs), Diêm đã lồng vào đó quan điểm cho rằng chính phủ cần phải từ bỏ chính sách thao quang dưỡng hối và chủ trương không liên kết, lần lượt là hai nền tảng của chính sách đối ngoại Trung Quốc trong suốt 20-30 năm qua. Chủ trương đầu tiên – thường bị hiểu sai lệch là (thực sự) “ẩn mình chờ thời” – được Đặng Tiểu Bình đề ra sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989 và sự sụp đổ của Liên Xô tiếp sau đó.8 Để thay thế thao quang dưỡng hối (tao guang yang hui), Diêm đề xuất chủ trương khiêm khư cẩn thận (qianxu jinshen), có thể tạm dịch là “hành động khiêm tốn và thận trọng”;9 đồng thời, ông cũng đề nghị đưa chiến lược liên minh thay thế cho chính sách không liên kết. Theo ông Diêm, “không liên kết”:
Đồng nghĩa với việc không tạo được những bạn bè gần gũi, tin cậy nhất. Nếu không có những người bạn này, chúng ta không có ai để dựa vào những lúc khó khăn. Việc không có đồng minh cũng không hề làm giảm đi sự lo sợ của những quốc gia khác về sự trỗi dậy của chúng ta. Chính sách không liên kết đã trở thành rào cản ngăn chúng ta đạt được sự hỗ trợ của hầu hết những quốc gia ở khu vực Nam Hải. Nước Mỹ đang lo lắng về việc chúng ta từ bỏ chính sách không liên kết, bởi vì chính sách lược này đã và đang giúp họ cô lập chúng ta. Nhìn ra cả bốn phía của lãnh thổ Trung Quốc, có thể thấy khu vực bình an  nhất là phía Tây và Tây Bắc, và an ninh ở đó dựa trên liên minh bán quân sự của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải. Tóm lại, điều mà Trung Quốc đối mặt hôm nay không phải chỉ là vấn đề điều chỉnh chính sách đối ngoại, mà còn là điều chỉnh nguyên tắc đối ngoại, đó là có nên điều chỉnh các nguyên tắc “thao quang dưỡng hối” và không liên kết hay không.10
Chủ đề thảo luận này được nối tiếp bằng những phân tích cụ thể hơn về sự cần thiết và tính khả thi của một liên minh Nga – Trung. Bắt đầu với tiền đề cho rằng sự mong muốn và tin cậy của bất kì liên minh nào cũng đều được tạo nên bởi sự tương đồng về lợi ích an ninh giữa các thành viên, ông Diêm khẳng định cả Nga và Trung Quốc không thể có được một lựa chọn chiến lược nào tốt hơn là làm đồng minh của nhau. Nga vẫn luôn phải chịu đựng áp lực liên tục và ngày càng tăng của các nước phương Tây kể từ sau kỉ nguyên chiến tranh Lạnh, trong khi Trung Quốc đang phải đối mặt khả năng bị bao vây bởi những quốc gia đồng minh của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Vì thế, việc tìm ra những lợi ích chung giữa hai quốc gia là cần thiết để chống lại sự xâm lấn chiến lược của Mỹ.11
Dù Diêm là người tranh luận tích cực nhất cho chính sách liên minh, ông không hề đơn độc. Và mặc cho việc ông thường có quan điểm công kích hoặc lập trường cứng rắn trong các cuộc tranh luận về chính sách đối nội thì trong vấn đề liên minh này, Diêm  thực chất lại đứng trên quan điểm ôn hòa, cho rằng liên minh Trung – Nga, trước những áp lực ngày càng tăng cao của tình hình quốc tế, sẽ là một liên minh phòng thủ ngăn chặn được tình trạng ngày càng xấu đi của môi trường chiến lược quốc tế.12 Đới Húc (Dai Xu), một đại tá không quân thuộc lực lượng Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA), có quan điểm cứng rắn hơn nhiều. Trong một bài báo đăng tải trên tờ Hoàn Cầu Thời Báo tháng 1 năm 2012, ông đã quả quyết rằng Washington hiện đang triển khai một kế hoạch quân sự nhằm thống trị cả thế giới, lấy khu vực Á – Âu làm chiến trường chính và Nga – Trung chính là hai đối thủ chủ yếu. Chính vì vậy, ông cho rằng Trung Quốc và Nga cần phải thiết lập “đại liên minh Á – Âu” để cùng nhau chống lại thói quen “bắt nạt” những nước yếu và tham vọng tạo nên một đế chế toàn cầu của Mỹ. Điều này đòi hỏi Trung Quốc phải đánh giá lại nguyên tắc không liên kết của mình, đồng thời xem xét chính sách đối ngoại hiện chỉ tập trung vào kinh tế và phát triển hòa bình. Ông Đới đề nghị trong khi thiết lập một thế trận phòng thủ chủ động trên mặt trận trên biển, Trung Quốc cũng đồng thời nên thực hiện một cuộc “trường chinh” vào trung tâm Á – Âu để đánh bại chiến lược bao vây của Mỹ.13
Tư duy cực đoan của ông Đới không được chia sẻ rộng rãi ngay cả trong nội bộ những người ủng hộ thay đổi chính sách không liên kết. Không những vậy, hầu hết người dân Trung Quốc còn xem ông Đới như người đang đứng ngoài ranh giới của sự hiểu biết và độ am hiểu về chính sách, và những lời nói thô lỗ của ông ta khó lòng được cân nhắc một cách nghiêm túc. Một số đề xuất khác có mức độ đóng góp lớn hơn lại đến từ những học giả ít tiếng tăm, điển hình là Trương Văn Mộc (Zhang Wenmu) của trường đại học Hàng không và Vũ trụ Bắc Kinh; chính ông là người đã nhắc đến sự cần thiết của việc nâng cấp mối quan hệ Nga – Trung từ đối tác chiến lược lên thành đồng minh chiến lược. Thay vì trở thành liên minh quân sự để giải quyết xung đột, ông lại nhấn mạnh rằng nhiệm vụ chính của liên minh nên là bảo vệ lợi ích hợp pháp chung của Nga và Trung Quốc trước sự xâm lấn của Mỹ. Ông cũng đồng thời chỉ trích những người tin vào chính sách không liên kết đã hiểu sai bản chất của chính sách đối ngoại Trung Quốc. Theo ông, trọng tâm của chính sách đối ngoại Trung Quốc kể từ năm 1949 đã là độc lập và tự chủ, chứ không phải không liên kết. Ông cảnh báo việc gắn mình vĩnh viễn vào chính sách không liên kết là Trung Quốc đã tự đào hố chôn mình trước khi cuộc xung đột thực sự bắt đầu.14
La Viện (Luo Yuan), một cựu thiếu tướng của PLA và cũng là cựu Phó giám đốc của Phòng Nghiên cứu các Vấn đề Quân sự thuộc Học viện Khoa học Quân sự, người vốn ủng hộ mạnh mẽ cách tiếp cận cứng rắn hơn trong các chính sách ngoại giao của Trung Quốc, thực tế lại tỏ ra hoài nghi về chiến lược liên minh chính thức. Ông đề xuất rằng thay vì phải có đồng minh, Trung Quốc có thể nâng cấp quan hệ với những quốc gia có ý nghĩa chiến lược (bao gồm cả Nga) lên mức độ hợp tác chiến lược cao hơn, từ đó Trung Quốc sẽ có được những liên minh trên thực tế (de facto) mà không lo sợ những cạm bẫy xuất phát từ những liên minh chính thức.15
Một đề xuất về bán liên minh như vậy, đặc biệt là trong mối quan hệ giữa Nga và Trung Quốc, có vẻ như được nhiều người ủng hộ. Điều này đơn giản vì người ta cho rằng bán liên minh sẽ tạo điều kiện cho Trung Quốc được hưởng lợi nhiều hơn từ những lợi thế an ninh được tạo nên từ sự liên kết chiến lược, nhưng cũng đồng thời tránh được những rủi ro, tính bị động và hệ lụy phức tạp mà một liên minh chính thức có thể đem đến.16 Mô hình bán liên minh tương đối ít tốn kém, linh hoạt và tiện lợi nhưng lại không làm mất đi tính độc lập về đối ngoại vốn được ưa chuộng ở Trung Quốc. Cụ thể, một mối quan hệ bán liên minh Trung – Nga, với khả năng định hướng phòng thủ đầy hứa hẹn, được đánh giá có tiềm năng để phát triển thành một mẫu hình quan hệ giữa các cường quốc. Theo Vũ Trịnh Lương (Yu Zhengliang), một mối quan hệ bán liên minh Trung – Nga không phải để thách thức hay thay thế sự độc tôn của Mỹ; nó chỉ là một phản ứng chiến lược đối với tình hình đang leo thang như hiện nay, nhằm có được một mối quan hệ cân bằng với phương Tây và bảo vệ lợi ích chiến lược của Trung Quốc.17 Những đặc tính bên trong của mô hình bán liên minh phần nào giải thích được tại sao nó lại thuyết phục được nhiều nhà phân tích đang lo ngại về việc từ bỏ một cách quá vội vàng những chính sách ngoại giao lâu nay.
Một tiếng nói quan trọng khác trong cuộc tranh luận này thuộc về Đường Thế Bình (Tang Shiping) của trường đại học Phúc Đán. Ông không ủng hộ một chính sách liên minh nào cụ thể, mà thay vào đó đề nghị Trung Quốc cân nhắc lại vai trò của đồng minh trong những bài học quá khứ. Ông Đường chỉ trích quyết định từ chối liên minh của Trung Quốc là một hành động tự lừa dối; ông cũng đồng thời cho rằng chính sách này đã đưa Trung Quốc vào thế bị các quốc gia khác chế nhạo bởi sự không nhất quán khi nói về tầm quan trọng của đồng minh trong suốt chiều dài lịch sử ngoại giao. Ông lập luận rằng,việc xây dựng liên minh không nhất thiết phải là dấu hiệu của “tư tưởng Chiến tranh Lạnh” –  như cái cách mà chính phủ vẫn luôn quả quyết, và rằng ngay cả trong lịch sử, Trung Quốc cũng chưa bao giờ là một quốc gia không liên kết. Ông Đường kết luận, việc chối bỏ vai trò của liên minh như một chiến lược an ninh đã gây cản trở nghiêm trọng lên tư duy chiến lược của Trung Quốc. Từ đó, ông hối thúc chính phủ cân nhắc mọi chiến lược có thể, kể cả có hay không liên quan tới liên minh, nhằm thúc đẩy lợi ích quốc gia mà không nhất thiết phải phá vỡ nguyên tắc đối ngoại độc lập đề ra năm 1982.18 Quan điểm này của ông đã nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ từ nhiều học giả khác, trong đó có Thời Ánh Hồng (Shi Yinhong) của Đại học Nhân dân.19
Áp lực quốc tế, năng lực được cải thiện và những thất vọng trong nước
Vì sao tư duy mới của Trung Quốc về liên minh lại nổi lên vào thời điểm này? Câu trả lời tốt nhất dựa trên chủ nghĩa hiện thực mới: việc xem xét lại các chính sách hiện hành bị thúc đẩy bởi những thay đổi to lớn trong hệ thống quốc tế mà những ràng buộc của hệ thống đó đang chi phối sự vận động của Trung Quốc.20 Những ràng buộc này đang ngày càng thắt chặt hơn do sự tăng cường vị thế bá quyền chiến lược của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Cảm nhận của Trung Quốc về những áp lực chiến lược từ Hoa Kỳ là lý do thường xuyên được họ sử dụng để biện minh cho việc thiết lập các liên minh nhằm chống lại hoặc cạnh tranh với các hệ thống an ninh của Mỹ trong khu vực.
Kenneth Waltz đã nhìn nhận liên minh là giải pháp cân bằng bên ngoài hữu hiệu, có thể bao gồm “các động thái nhằm tăng cường và mở rộng liên minh của mình và làm suy yếu, thu hẹp liên minh của đối thủ”.21 Những nhà phân tích của Trung Quốc đang xem xét cả 2 khía cạnh của chiến lược này: xây dựng liên minh với Nga và các quốc gia khác, đồng thời phá hoại hệ thống liên minh Mỹ bằng cách tạo áp lực lên những đồng minh khu vực của Mỹ, và làm tăng cái giá mà Mỹ phải trả để đảm bảo những cam kết với đồng minh của mình. Hơn nữa, Trung Quốc hiểu rõ khía cạnh chính trị liên minh trong chính sách của Trung Quốc với các nước láng giềng. Trung Quốc tin rằng liên minh với các nước láng giềng có thể giúp tạo sự tin tưởng chiến lược, từ đó xóa đi những nghi ngờ và củng cố thêm sự hợp tác chiến lược, đồng thời làm suy yếu đi sức hấp dẫn của Mỹ trong vai trò là người cung cấp an ninh.22 Ít nhất, xây dựng liên minh với láng giềng cũng có thể giúp Trung Quốc không bị mất thêm những quốc gia thân thiết vốn đã rất ít ỏi, điều đã được minh chứng bằng những thay đổi gần đây ở Miến Điện.
Nếu những ý tưởng trên trở thành hiện thực, sẽ có hai hệ thống liên minh đối lập trên cùng khu vực châu Á – Thái Bình Dương, và kết quả là một phiên bản Chiến tranh Lạnh khác có thể xảy ra ngay tại thế kỉ 21 với cuộc đối đầu của Mỹ và Trung Quốc. Nếu không có gì thay đổi, khu vực này sẽ phải chứng kiến sự hồi sinh của một thực tiễn không mong muốn. Sự trỗi dậy của Trung Quốc và những động thái quyết liệt của nước này23 trong những năm gần đây đã gây nên sự phản ứng mạnh mẽ từ Washington và các nước đồng minh khu vực. Chính điều này khiến Trung Quốc bàn thảo về việc đáp trả tương thích, tập trung vào việc tái thiết lập các quan hệ đồng minh từ lịch sử đối ngoại thăng trầm của họ trong vấn đề này. Người ta có thể lý giải việc này như một ví dụ của tình trạng lưỡng nan về an ninh đang ngày càng tăng cao giữa Trung Quốc và các nước láng giềng vốn đang nhận được hỗ trợ chiến lược từ Mỹ. Những quốc gia láng giềng này, trong lúc tìm kiếm biện pháp thắt chặt an ninh thông qua mở rộng quân sự, đã làm nâng cao sự e dè lẫn nhau. Chính vì thế, mỗi nước đều không ngừng phát triển năng lực quốc phòng và cuối cùng thì không bên nào thực sự đạt được tình trạng an ninh tốt hơn trước đây.24 Người ta có thể diễn giải điều này như là một cuộc cạnh tranh giữa một quyền lực đang lên (Trung Quốc) và một bá chủ thế giới (Mỹ) trong việc thiết lập cấu hình tương lai của trật tự khu vực. Nếu Mỹ tiếp tục “xoay trục” mà không trấn an Trung Quốc, và nếu Trung Quốc thấy cần thiết phải xây dựng chính sách liên minh, thì kết quả tồi tệ nhất có thể là một cuộc đấu tranh giành quyền thống trị chiến lược ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Tuy vậy, áp lực về trật tự khu vực không phải là nguyên nhân duy nhất dẫn đến tư tưởng liên minh mới của Trung Quốc, hoặc nói cách khác là nó không nhất thiết phải dẫn đến tư tưởng này. Nhìn lại lịch sử một chút sẽ làm rõ hơn điều này. Sau thập niên 1980, khi liên minh không còn chiếm vai trò quan trọng trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc, đã có ít nhất hai lần nó có thể được hồi sinh. Từ 1989 đến 1992, việc phương Tây cô lập ngoại giao và ban hành lệnh trừng phạt Trung Quốc sau sự kiện Thiên An Môn, cùng với sự thay đổi trật tự địa chính trị thế giới sau Chiến tranh Lạnh đã đặt Trung Quốc trước những quyết định ngoại giao khó khăn. Giới chức lãnh đạo thảo luận về những tình hình thực tế và cách giải quyết, nhưng ý tưởng hình thành một liên minh chống Mỹ, với sự tham gia của nước Nga non trẻ, đã không nhận được nhiều quan tâm. Gần 10 năm sau đó, năm 1999, một cuộc tranh luận nổ ra sau khi NATO đánh bom Đại sứ quán Trung Quốc ở Belgrade trong cuộc chiến Kosovo. Lần này, cuộc tranh cãi không chỉ diễn ra trong nội bộ giới lãnh đạo Bắc Kinh, mà còn diễn ra sôi nổi giữa những nhà phân tích không thuộc chính phủ. Tuy nhiên, tương tự như trước, tư tưởng liên minh đã hầu như không gây được sự chú ý nào.25
Việc những áp lực trong quá khứ khá tương tự như ngày nay, nhưng lại không đem đến sự thay đổi trong tư duy về liên minh như bây giờ đã cho thấy áp lực chỉ là một phần nguyên nhân. Phần còn lại chính là do sự tăng cường vị thế quyền lực của Trung Quốc, cũng như những thay đổi trong tranh luận nội bộ về vấn đề ngoại giao. Khi nào một đất nước muốn liên minh với nước khác? Lý thuyết cân bằng quyền lực theo chủ nghĩa hiện thực mới cho rằng đó là khi những quốc gia còn lại muốn tạo nên vị thế cân bằng với quốc gia quyền lực nhất trong hệ thống.26 Có lẽ, khoảng cách quyền lực càng lớn chừng nào thì các quốc gia yếu lại càng có xu hướng muốn tạo được sự cân bằng chừng đó, trừ khi quốc gia thống trị kia quá vượt trội đến nỗi sự cân bằng thông thường không thể hoạt động được.27 Mặt khác, thuyết cân bằng lại mối đe dọa  chỉ ra rằng các quốc gia thường liên kết chống lại quốc gia có mức độ đe dọa cao hơn, với mức độ đe dọa được xác định bởi tổng hợp những yếu tố như nguồn lực sức mạnh, sự gần kề về địa lý, khả năng gây ảnh hưởng và những chính sách cho thấy khả năng gây nguy hiểm.28
Trường hợp của Trung Quốc, tuy thế, lại đặt ra thách đố cho cả hai lý thuyết. Nếu thuyết cân bằng quyền lực là đúng, thì xu hướng cân bằng quyền lực với Mỹ đáng lẽ phải dần giảm bớt sau thời kì Chiến tranh Lạnh, vì Trung Quốc đã và đang dần bắt kịp với Mỹ về mức độ phát triển. Thế nhưng những tranh cãi về liên minh lại bùng lên vào thời điểm Trung Quốc đạt được vị trí thứ hai thế giới về kinh tế, chứ không phải lúc quốc gia này bị bỏ xa phía sau. Vì vậy, khi các nhà phân tích như Diêm Học Thông nói rằng Trung Quốc hiện gần như ở cùng cấp độ quyền lực với Mỹ và đang tạo nên một hệ thống hai cực mới, ông đang muốn nhắc đến sự cân bằng quyền lực; mặc dù, nếu nhìn từ góc độ của quyền lực tương đối thì Trung Quốc lúc này ít có nhu cầu cân bằng quyền lực hơn so với giai đoạn sau Chiến tranh Lạnh. Mặt khác, nếu thuyết cân bằng lại mối đe dọa là đúng, thì những tranh luận về liên minh lẽ ra phải xuất hiện nhiều lần từ sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Và chắc chắn một điều là những tranh cãi này đáng lẽ không thể nào căng thẳng hơn những thời điểm như năm 1999, khi mà máy bay Mỹ đã thực sự đánh bom đại sứ quán Trung Quốc.
Một nguyên nhân khác cho việc xuất hiện nhu cầu liên minh khi Trung Quốc mạnh lên là sự thông hiểu đặc biệt của nước này về chính trị liên minh. Theo đó, Trung Quốc cần phải xây dựng các liên minh khi sức mạnh của quốc gia này bằng hoặc mạnh hơn so với các đối tác liên minh; và khi Trung Quốc không quá thua kém so với quốc gia mà họ muốn cân bằng quyền lực. Các nhà phân tích Trung Quốc đã nhận thức được rằng trong những liên minh trước đây với Liên Xô và Mỹ, Trung Quốc, với tư cách là bên yếu hơn, luôn gặp bất lợi hơn, đặc biệt là trong mối quan hệ với Liên Xô. Họ do đó muốn đảo ngược sự bất đối xứng này trong những liên minh tương lai, với Trung Quốc ở phía mạnh hơn, hoặc ít nhất là cân bằng. Nhiều người cho rằng việc thiết lập liên minh với Nga sẽ không tạo ra bất kì rủi ro nào cho Trung Quốc, vì sức mạnh của họ giờ đây đã ngang ngửa và rất có thể sẽ mạnh hơn Nga trong tương lai.29 (Điều này sẽ còn đúng hơn nữa khi xét các mối liên minh khác, với các quốc gia yếu hơn). Những nhà phân tích cũng tin rằng khả năng hiện nay của Trung Quốc sẽ biến liên minh thành một chiến lược hiệu quả và quan trọng giúp họ cân bằng quyền lực với Mỹ, chứ không như thời điểm đầu những năm 1990, khi cân bằng bên ngoài không giúp gì nhiều cho Trung Quốc vì sự yếu kém về vật lực của họ. Dưới góc nhìn này, tư duy mới về liên minh được kích thích bởi vị trí quyền lực được củng cố của Trung Quốc sau ba thập kỉ phát triển chóng mặt về kinh tế. Đối với nhiều nhà phân tích Trung Quốc, đạt được vị trí thứ hai trong quyền lực quốc tế là ngưỡng giới hạn để cân bằng bên ngoài bắt đầu phát huy tác dụng, khi họ không quá thua kém nước đứng đầu – đối thủ để cân bằng quyền lực, và mạnh hơn phần còn lại – những nước có thể thành đồng minh.
Cuối cùng, tư tưởng mới về liên minh cũng là một hệ quả của sự thiếu kiên nhẫn, không thỏa mãn và giận dữ của những nhà phân tích với những chính sách hiện tại. Sự giận dữ đã không ngừng tăng từ cuối thập niên 1990, một phần do Trung Quốc nới lỏng kiếm soát những cuộc thảo luận giữa các học giả. Sự vắng mặt của những ý tưởng liên minh trong giai đoạn 1989-92 có thể được lý giải một phần bởi sự yếu kém của Trung Quốc. Một nguyên nhân khác quan trọng hơn nhiều là do sự xuất hiện của một tư tưởng ngoại giao chính thống mới được đặt ra và bảo trợ bởi Đặng Tiểu Bình, đó là chính sách thao quang dưỡng hối đã được nhắc đến ở phần trên. Tư tưởng ngoại giao này bao gồm cả nguyên tắc không liên kết, thông qua việc giấu mình chờ thời, ủng hộ cách tiếp cận thụ động và dè chừng. Chủ trương ngoại giao này thực sự phát huy tác dụng vào giai đoạn thập niên 1990. Tuy vậy, ngày nay, tính hữu ích của nó đã bị đặt một dấu hỏi bởi một lượng đông đảo những nhà phân tích cánh tả và cánh hữu. Phe cấp tiến, vốn ủng hộ quan điểm liên minh mới, chỉ ra rằng những chính sách ngoại giao cũ thời ông Đặng Tiểu Bình đã không còn phát huy tác dụng, và thậm chí, nó còn trói buộc chính sách ngoại giao Trung Quốc trong sự nhu nhược. Một lần nữa, Diêm Học Thông lại chứng minh vì sao ông là một nhà phê bình nổi tiếng. Ông cho rằng một chính sách đối ngoại chú trọng phát triển kinh tế quốc gia sẽ trở nên lỗi thời một khi những lợi ích về an ninh trở thành vấn đề cấp thiết hơn những lợi ích về kinh tế. Và giải pháp liên minh không chỉ là một sự phản ứng lại tình trạng xấu đi của môi trường an ninh Trung Quốc, mà nó cũng được ca ngợi là sẽ cứu vãn những thất bại trong chính sách đối ngoại gần đây của nước này. Cụ thể hơn, ông cho rằng thiết lập quan hệ đồng minh có thể tăng cường thẩm quyền đạo đức và mức độ khả tín chiến lược của Trung Quốc, mà việc thiếu những phẩm chất này được coi là những vấn đề nghiêm trọng trong môi trường quốc tế ngày nay.30 Đối với Diêm và một số nhà phê bình trực ngôn khác, sự bất mãn với chính sách hiện thời trở nên sâu sắc hơn bởi chính phủ có vẻ vẫn gắn bó với tư tưởng ngoại giao đã 20 năm tuổi của ông Đặng Tiểu Bình và làm ngơ trước những lời kêu gọi quyết liệt từ phía những nhà phân tích. 

Chủ Nhật, 10 tháng 8, 2014

Dân ta giàu nhất thế giới

Hắn đến Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Thụy Điển … thăm thú, thấy dân những nước này nghèo kiết xác, nghèo đến mức chẳng ai có cái xe đạp mà đi, cái máy điện thoại mà dùng.
Ánh lửa đốt vàng mã bập bùng trên các đường phố Hà Nội
Ánh lửa đốt vàng mã bập bùng trên các đường phố Hà Nội
Về thăm người bạn thời chăn trâu cắt cỏ, đang sống ở một bản hẻo lánh tỉnh miền núi. Ngồi tâm sự chuyện trên trời dưới biển, bạn tôi tự hào:
- Dân ta giầu nhất thế giới. Còn dân Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Thụy Điển… nghèo lắm, chẳng đáng gì so với ta.
Tôi mắt tròn mắt dẹt, hỏi:
- Căn cứ vào đâu mà ông nói thế?
Bạn tôi bảo:
- Thằng Tèo sống đầu bản nói thế!
- À, cái thằng Tèo ấy, tôi biết. Nhưng cả đời hắn chưa ra khỏi cái bản này, đến cái thành phố Hà Giang trong tỉnh nhà, từ lúc cất tiếng chào đời đến giờ, hắn còn chưa hề đặt chân đến, làm sao biết được là dân Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Thụy Điển đời sống thấp hơn dân ta nhiều.
Bạn tôi bảo:
- Này, đừng coi thường hắn nhé. Hắn đã đặt chân đến tận các nước đó thăm thú và sau khi quan sát mục tại sở thị mới rút ra nhận định đó đấy. Chắc như đinh đóng cột, không ai có thể bác bỏ được.
Tôi càng ngạc nhiên:
- Hắn đến tận những nước ấy? Tiền mua con trâu mà chẳng có, vậy lấy tiền đâu mà đi tới đó được.
Bạn tôi giảng giải:
- Tèo nó đâu có đi bằng tiền, mà đi bằng cách khác. Ấy là một lần ốm nặng, đã chết lâm sàng. Gia đình đã đóng quan tài chuẩn bị khâm liệm thì hắn bừng tỉnh, sống lại. Hắn bảo: “Khi hồn mình lìa khỏi xác, đi phiêu diêu khắp nơi ở cõi âm, thích đến nước nào, mình chỉ cần nghĩ là đã có mặt ngay ở nước đó. Vì vậy, mình đến Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Thụy Điển ở cõi âm… thăm thú, thấy dân những nước này nghèo kiết xác, nghèo đến mức chẳng ai có cái xe đạp mà đi, cái máy điện thoại mà dùng. Còn Việt Nam ta thì đầy ô tô, xe máy, điện thoại di động loại xịn hàng trăm triệu. có người còn có cả máy bay riêng.
Tôi vỡ lẽ:
- Nghĩa là người Việt ta chết đi, sống ở cõi âm, giầu hơn người Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Thụy Điển …dưới đó gấp bội lần chứ gì. Hiểu, ông nói thế thì tôi hiểu rồi. Bởi vì người các nước Âu châu nói trên không có phong tục đốt vàng mã gửi cho những thân nhân đã chết, còn ở Việt Nam lại có, nên ngày giỗ, tết, những linh hồn người Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Thụy Điển ở dưới đó chẳng có gì, còn linh hồn người Việt Nam  nhận được nhiều tài sản con cháu trên trần tài trợ đốt gửi xuống lắm. Chẳng phải chỉ có ô tô, máy bay, điện thoại di động cao cấp mà còn có cả biệt thự, thậm chí con cháu trên trần còn đốt cả hình nhân ôsin gửi xuống nữa. Trong dịp lễ Vu Lan này, nhiều gia đình ở Hà Nội phóng tay tiêu hàng triệu, thậm chí hàng trăm triệu đồng cho tục lệ đốt vàng mã, ngoài những thứ quần áo, giày dép, tiền vàng, họ còn đốt gửi các loại đồ mã cao cấp như nhà biệt thự siêu sang "dát vàng" có kèm số đỏ, đồ hàng mã thương hiệu nổi tiếng đang được ưa chuộng: như Iphone, Ipad hoặc các loại xe ô tô hạng sang:Rolls - Royce, Bugatti Veyron. Theo số liệu thống kê, trung bình một năm có khoảng 50.000 tấn vàng mã được sử dụng. Riêng Hà Nội nhẩm tính hiện có khoảng 1,7 triệu hộ gia đình với khoảng 6,2 triệu dân. Nếu dịp này, mỗi gia đình bỏ ra 100.000 đồng, toàn thành phố sẽ “hóa vàng” ít nhất là 160 tỷ đồng. Còn trong một năm dân Hà Nội đốt khoảng 4.800 tỷ đồng cho 30 dịp Lễ, Tết.
Bạn tôi kinh ngạc:
- Eo ôi! Sao dân ta lại có thể lãng phí tiền của ghê gớm vậy nhỉ?
Tôi lúng túng:
- Cũng chẳng hiểu nổi nữa. Chỉ biết rằng đời nhà Chu cách đây 1.122 trước công nguyên, bên Trung Quốc có tục lệ ai chết đi thì tất cả những vật dụng quý giá của họ khi còn sống kể cả thê thiếp, thuộc hạ được sủng ái cũng đều phải chôn sống theo. Về sau tục lệ vô nhân đạo này đã được bãi bỏ để thay vào đó làm bằng giấy thay cho đồ thật để đốt đi sau khi cúng bắt đầu từ đó cho đến tận ngày nay ở nhiều nước Á Đông. Việt Nam cũng ảnh hưởng ở tục lệ đó đem vàng mã đốt gửi cho người đã chết. Cứ tưởng ngày càng văn minh thì tục đốt vàng mã càng giảm đi, nào ngờ lại càng bùng phát mạnh hơn.

Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2014

MH17: Cuộc tỉ thí các “đại gia” và thân phận nước nhỏ

Sự vất vả của Hà Lan, Malaysia khi lấy lại di hài công dân và tham gia điều tra cho thấy số phận của nước nhỏ trong bàn cờ của nước lớn.
Trong cuộc gặp gia đình các nạn nhân của vụ tai nạn chuyến bay MH17 tại Kuala Lumpur (Malaysia) hôm chủ nhật 20-7, Thủ tướng Najib Razak tâm sự: “Là một nhà lãnh đạo, chưa bao giờ tôi lại phải đau lòng như những gì tôi đã trải qua những ngày qua. Vợ mất chồng, cha mất con”.
Ông Razak nhấn mạnh ông muốn di hài các nạn nhân người Malaysia sẽ được đưa ra khỏi vị trí vụ tai nạn ở miền đông Ukraine để được chôn cất tại quê nhà kịp trước lễ Aidilfitri (kết thúc tháng chay Ramadan).
Cũng thế, trên trang web của Chính phủ Hà Lan hôm 20/7, Thủ tướng Mark Rutte đã báo cáo với dân chúng Hà Lan đang đau lòng trước cái chết của 193 công dân nước họ:
“Hôm nay tôi lại có một số cuộc đàm thoại với các đối tác của tôi, trong đó có Thủ tướng Đức Angela Merkel và Thủ tướng Anh David Cameron, và tối nay tôi sẽ nói chuyện với Tổng thống Nga Putin một lần nữa. Tất cả nhằm đạt được ưu tiên số 1 của chúng tôi là gây áp lực lên tất cả các bên liên quan để đưa hài cốt các nạn nhân về”.
Tìm đến di hài các nạn nhân
Lẽ ra đây là một công việc không đến nỗi khó khăn nếu như địa điểm xảy ra tai nạn trong lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền trọn vẹn. Thế nhưng ở Ukraine đã và đang bị xâu xé như hiện nay, đây lại là điều có thể “bất khả”.
Trước hết là cách mà các tử thi được/bị quy tập. Cáo giác của Ngoại trưởng Mỹ John Kerry trong năm cuộc phỏng vấn truyền hình tối 20/7 từ Boston: “Chúng tôi có báo cáo về những kẻ ly khai say xỉn chất đống di hài của nạn nhân lên xe tải một cách bất kính”.
Điều “bất kính” đối với thi hài các nạn nhân mà ông Kerry đề cập cũng đã được Thủ tướng Hà Lan Rutte thuật lại trên trang web của Chính phủ nước này tối chủ nhật 20/7: “Đã có nhiều báo cáo ngày hôm nay về một đoàn xe lửa gần địa điểm vụ tai nạn có chứa một số lượng lớn tử thi”.
Tất nhiên đó là các toa xe đông lạnh và sự bảo quản các thi hài này tốt, theo ghi nhận của một trong hai chuyên gia pháp y Hà Lan khi được tiếp xúc các thi hài này. Song cách thức mà các tay súng ly khai bị cho là “say xỉn” chất các thi hài đó lên các toa xe lửa lại là “bất kính”, tuy rằng không khó hiểu khi các tay súng đó phải làm một công việc “nặng nề” không quen.
Trong những ngày đầu ngay sau tai nạn, phe ly khai - vốn là nhóm ô hợp, không chính quy, không có ban bệ chỉ huy rõ ràng - quả là đã hành xử “không chính quy” trong việc giải quyết thảm họa này, buộc thiên hạ phải lần lên trên, tức Tổng thống Nga Vladimir Putin.
Thủ tướng Hà Lan Rutte thuật tiếp: “Mọi nỗ lực nay đang nhằm di chuyển đoàn tàu này đến khu vực do Chính phủ Ukraine kiểm soát. Bộ trưởng ngoại giao Frans Timmermans hôm nay đã gọi điện thoại cho Ngoại trưởng John Kerry để thảo luận về điều này”.
 Thi thể các nạn nhân MH17 được chuyển về Hà Lan.
Về phần Malaysia, cũng những truân chuyên tương tự, mãi đến tối thứ hai (giờ Ukraine), sáng thứ ba 22/7 (giờ Malaysia), Thủ tướng Razak mới thở phào khi thông tin trên website Phủ thủ tướng về 44 công dân Malaysia thiệt mạng trong tai nạn này:
“Trong những ngày gần đây, chúng tôi đã làm việc trong hậu trường để thiết lập liên lạc với những người phụ trách địa điểm tai nạn MH17. Trong những điều kiện khó khăn và không thông suốt, chúng tôi đã thảo luận về những vấn đề mà tất cả chúng ta đều quan tâm: bảo toàn những bằng chứng quan trọng từ chiếc máy bay, mở ra một cuộc điều tra độc lập, và trên tất cả là quy tập di hài của những người bị tước mất mạng sống”.
Theo thỏa thuận mà Thủ tướng Razak thông báo, hai hộp đen của chiếc MH17 đã được bàn giao cho một đội của Malaysia tại Donetsk để giám sát. Và điều quan trọng hơn là các điều tra viên quốc tế độc lập sẽ được đảm bảo tiếp cận an toàn địa điểm tai nạn để bắt đầu một cuộc điều tra đầy đủ về vụ việc.
Di hài các nạn nhân được chuyển bằng xe lửa đến Kharkiv để bàn giao cho đại diện đến từ Hà Lan trước khi đưa đến Amsterdam trên một máy bay C130 Hercules của Hà Lan. Sau các thủ tục pháp y cần thiết, di hài các công dân Malaysia sẽ được đưa về quê nhà bằng máy bay.
“Chỉ sau đó, cuộc điều tra vụ MH17 mới có thể thật sự bắt đầu và các nạn nhân mới có thể được nhận sự tôn trọng đáng có. Chúng ta cần phải biết những gì khiến máy bay rơi và những người chịu trách nhiệm về việc này, sao cho công lý có thể được thực thi” - Thủ tướng Razak nhấn mạnh.
Nén giận vì đại cuộc
Qua trình thuật trên của thủ tướng Malaysia, có thể hình dung bao truân chuyên mà phía Malaysia, từ toán cứu hộ thảm họa gồm 62 người đến nơi ngay sau tai nạn, đến Bộ trưởng giao thông Liow Tiong Lai và Ngoại trưởng Anifah Aman lần lượt đến nơi trong ngày thứ hai 21/7.
Các chuyên gia Malaysia tại khu vực MH17 rơi. 
Cho dù có muốn tự kiềm chế, song cuối cùng Thủ tướng Razak cũng phải thố lộ với toàn dân Malaysia: “Trong những ngày gần đây, đã có lần tôi muốn cất tiếng nói lớn hơn cho nỗi tức giận, đau buồn mà người dân Malaysia đang cảm nhận và cả những gì tôi cảm nhận nữa. Nhưng đôi khi chúng ta phải thinh lặng làm việc vì một kết quả tốt đẹp hơn”.
Trong một thông báo khác trên website Chính phủ Malaysia, Thủ tướng Razak cũng đã vất vả giải thích tin đồn Hãng hàng không Malaysia Airlines đã lại chọn lộ trình bay qua Syria để tiết kiệm nhiên liệu: “Kế hoạch bay của chuyến bay MH004 là phù hợp với các đường bay đã được Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (ICAO) phê duyệt. Theo thông báo cho phi công của Cơ quan Hàng không dân dụng Syria, không phận Syria không bị hạn chế. Trong mọi lúc, đường bay của MH004 là trong không phận được ICAO chấp thuận”.
Chuyến bay định mệnh MH17 mà một số dư luận cho là liều mạng bay vào vùng chiến sự ở Ukraine để tiết kiệm nhiên liệu, cũng đã bay theo lộ trình được ICAO phê duyệt (không ít hãng hàng không khác chỉ sau thảm họa MH17 mới đổi đường bay).
Vấn đề là ICAO cũng như các hãng hàng không này đã yên chí rằng ở Ukraine hay Syria, cho dù có nội chiến, song không một kẻ nào lại có thể được phép hay tự tiện bấm nút tên lửa đối không tầm cao ở cao độ 10.000m trở lên như thế, bất quá “du kích” bắn tên lửa cầm tay lên độ cao dăm ba ngàn mét.
Hà Lan, với chỉ trên 16 triệu dân cùng một diện tích vỏn vẹn 43.000km2, trong đó 18% dưới mặt nước biển, quả là “mỏng manh” trước những “đại gia”. Cũng thế, Malaysia đang chủ trương “tránh voi chẳng xấu mặt nào” cũng bị lôi vào thảm họa MH370 rồi nay MH17. Thủ tướng Malaysia Razak hôm thứ hai 21/7 chua chát tố cáo: “Đây là điều xảy ra khi có bất cứ cuộc xung đột nào mà không thể được giải quyết thông qua đàm phán trong hòa bình. Cuối cùng ai sẽ trở thành nạn nhân?”.
Ông Razak muốn nói đến cuộc tỉ thí địa chính trị Nga - Mỹ ở Ukraine? Trên 500 thường dân mất tích và thiệt mạng trên các chuyến bay MH370 và MH17, cũng chừng ấy người thiệt mạng trong cuộc xung đột ở dải Gaza từ hai tuần qua. Sinh mạng con người quá rẻ trong các tính toán của các “đại gia”!

Điểm lại 7 vụ tai nạn máy bay thảm khốc trong tháng 7

Tính cho tới thời điểm này, các vụ tai nạn hàng không (kể cả dân sự và quân sự) đều gây ra những tổn thất về người và của to lớn.
1. Trên lộ trình từ Amsterdam (Hà Lan) tới Kuala Lumpur (Malaysia) ngày 17/7, khi đi qua vùng miền đông đầy chiến sự của Ukraine, chiếc máy bay Boeing 777 mang số hiệu MH17 đã trúng tên lửa và rơi xuống cánh đồng ỏ làng Grabovo, tỉnh Donetsk, khiến toàn bộ 298 người thiệt mạng. Cho tới nay, nguyên nhân vụ bắn rơi trên vẫn chưa được sáng tỏ.
2. Một vụ tai nạn máy bay thương tâm khác mới xảy ra ở Đài Loan vào ngày 23/7. Theo đó, ở lần hạ cánh khẩn cấp thứ 2 xuống sân bay Mã Công (đảo Bành Hổ), phi công máy bay ATR72 mang số hiệu chuyến bay GE222 đã đâm vào nhà dân xung quanh sân bay và bốc cháy, khiến 48 người thiệt mạng và 10 người bị thương. Tại thời điểm gặp nạn, bão Matmo đang đổ bộ vào đảo này, gây mưa to, gió lớn.
3. Ngày 24/7: Cơ quan quản lý hàng không Algeria thông báo mất liên lạc với máy bay MD-83 mang số hiệu AH5107 (của hãng hàng không Air Algerie), bay từ Ouagadougou ở Burkina Faso tới Algiers sau khi cất cánh 50 phút. Trên máy bay, tổng cộng có 110 hành khách và 6 thành viên phi hành đoàn. Theo thông tin ban đầu, máy bay trên đã bị rơi xuống khu vực gần Niamey, thủ đô Niger.
4. Khoảng 7h46 phút sáng 7/7, máy bay trực thăng Mi-171 mang số hiệu 01 của Trung đoàn Không quân trực thăng 916, Sư đoàn Không quân 371, thuộc Quân chủng Phòng không-Không quân Việt Nam bay huấn luyện nhảy dù bị rơi. Vụ tai nạn làm 16 đồng chí hy sinh và 5 đồng chí bị thương. Nguyên nhân vụ việc là do động cơ máy bay bị tụt công suất đột ngột.
 
 5. Ngày 14/7, 6 sĩ quan (trong đó có 2 vị tướng cấp cao) trong Quân đội Hoàng gia Campuchia đã thiệt mạng khi chiếc trực thăng quân sự do Trung Quốc sản xuất Harbin Z-9 chở họ bị rơi ở địa điểm cách thủ đô Phnom Penh 12 km theo hướng nam.
  
6. Vào ngày 17/7, chiếc trực thăng cứu hỏa của Hàn Quốc đã bị rơi xuống gần khu chung cư ở tỉnh Gwangju, làm ít nhất 5 người thiệt mạng. Trực thăng này đang trên đường trở về căn cứ sau khi tham gia công tác tìm kiếm xác các nạn nhân mất tích trong vụ chìm phà Sewol.
7. Ngày 23/7, một máy bay đã bị rơi trên Thái Bình Dương khiến phi công 17 tuổi Haris Suleman (Mỹ) tử nạn và cha cậu vẫn đang mất tích. Được biết, hai cha con họ hi vọng đi vòng quanh thế giới để quyên góp tiền xây dựng trường học cho các trẻ em nghèo ở Pakistan.

Thứ Sáu, 8 tháng 8, 2014

Lịch Sử Hay Tiểu Thuyết?

Lịch sử phải là những câu chuyện có thật
history ed
Cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Trung quốc thường được nói tránh đi trong các văn bản chính thức, trong các bài giáo khoa lịch sử. Lịch sử có nên được trình bày bằng cách thức như vậy để tránh xung đột hay không?
Sự tế nhị mang tên Trung quốc
Các dân tộc cổ xưa sống cạnh nhau không tránh khỏi những mối hiềm khích. Những hiềm khích ấy vẫn còn là những xung đột, lúc ngấm ngầm lúc công khai giữa thời buổi của công nghệ thông tin mà nhiều người tin rằng nhân loại đang đi đến một thế giới phẳng. Người Nga và Ukraine đang thượng cẳng chân hạ cẳng tay với nhau. Người Nhật và người Trung quốc lời qua tiếng lại suốt hai năm nay. Và ở chiều ngược lại, những cảm xúc dân tộc chủ nghĩa đó ở Việt Nam lại đang được dồn nén lại, dồn nén tới mức tên của quốc gia gây ra cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 là Trung quốc không được nêu lên.
Một hội thảo tại Hà nội mang tên “Bảo tồn và phát huy những giá trị lịch sử của các cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới, hải đảo và chủ quyền quốc gia thời hiện đại” có vẻ muốn làm một điều gì đó đột phá trong cách thức mà những kiến thức lịch sử được truyền tải trong xã hội hiện nay. Trong lời phát biểu kết thức cuộc hội thảo của Giáo sư Phan Huy Lê được TS Nguyễn Xuân Diện ghi lại trên blog của ông như sau: Sách Giáo Khoa (SGK) đã đọc lại hết từ phổ thông, riêng về chiến tranh biên giới Tây Nam và phía Bắc là có, nhưng rất ngắn. Đến mức tôi đọc cũng không hiểu nổi. Vậy các học sinh sẽ học như thế nào. Còn riêng với Hoàng Sa – Trường Sa  không có chữ nào về chủ quyền.
Các cuộc chiến tranh mà cuộc hội thảo trên nêu ra đều có liên quan đến Trung quốc. Và lịch sử nói về những cuộc chiến tranh này không được thực hiện như bản thân môn lịch sử phải có là kể lại trung thực những câu chuyện đã xảy ra. Có vẻ như sự thể lại rắc rối hơn khi hai quốc gia láng giềng có lịch sử xung đột với nhau là Trung quốc và Việt nam lại có cùng một mô hình chính trị xã hội là chế độ cộng sản.
Sự rắc rối này thể hiện ở từ tế nhị mà GS Vũ Dương Ninh dùng trong phát biểu với biên tập viên Mặc Lâm của đài Á châu tự do,
Có một cái sự tế nhị vô hình nào đó luôn ngăn cản việc này. Chúng tôi cho là đơn giản, lịch sử là lịch sử ta cứ đưa vào, nhưng không đơn giản như vậy. Cuối cùng thì thôi ta phải đưa vào nhưng có lẻ mức độ thôi. Mức độ là thế nào? Lúc đầu viết 3 trang 4 trang sau coi đi coi lại mãi cuối cùng được 12 dòng! Khi trả lời nhà báo tôi nói đây là sự cố gắng rất lớn nhưng có lẻ họ không thể hiểu được cố gắng ấy như thế nào.
Có phần chắc là sự tế nhị đó nằm trong sự tương đồng về thể chế chính trị “anh em” của hai nước, vì sự tế nhị tương tự không hề được nêu lên trong những bài học lịch sử có liên quan đến cuộc can thiệp quân sự của người Mỹ vào Việt nam trước đây. Nhưng sự tế nhị đó không tránh được các cuộc biểu tình chống Trung quốc nổ ra mỗi khi có ngư dân trên biển Đông bị lực lượng hải giám Trung quốc đánh đập, không ngăn được lời phát biểu chống ảnh hưởng của Trung quốc của Giáo sư Nguyễn Huệ Chi khi ông được hỏi về việc thành lập Khổng tử học viện tại Việt Nam,
“Đối với sự xâm lấn về tư tưởng về văn hóa của người Tàu đã trở thành máu, tôi không cho rằng những cái gì người Tàu làm là tốt.”
Mặc dù với tư cách một chuyên gia trong lĩnh vực Hán Nôm, ông rất tường tận về sự ảnh hưởng của văn hóa Hán trong xã hội Việt nam.
Lịch sử dưới mái trường xã hội chủ nghĩa
Lịch sử được giảng dạy dưới mái trường xã hội chủ nghĩa do những người cộng sản điều hành không đơn giản là là những câu chuyện xưa được kể lại một cách trung thực, mà theo những người cộng sản thì nó phải mang tính giai cấp. Tức là nó phải mang quan điểm của giai cấp lãnh đạo mà cụ thể là đảng cộng sản. Do vậy lịch sử dưới mái trường xã hội chủ nghĩa mang tính chính trị rất cao, và thời lượng được tập trung rất nhiều vào giai đoạn từ khi đảng cộng sản ra đời, 1930, trở về sau, tức là vỏn vẹn chưa đầy 100 năm trên hơn 2000 năm của lịch sử dân tộc nếu kể từ khi có những văn bản ghi chép đầu tiên.
Cũng chính vì học thuyết giai cấp ấy trong môn lịch sử mà rất ít học sinh Việt Nam biết về cuộc xâm lăng miền Đông Ba Lan của Liên Xô đầu thế chiến thứ hai, hay là những cuộc nổi dậy Budapest tại Hungary năm 1956, Prague tại Tiệp Khắc năm 1968.
Trong những bài học lịch sử mang tính chính trị, thế giới cộng sản được hình dung là các nước anh em, vào thời hoàng kim của nó gồm 13 nước, chống lại hệ thống tư bản bóc lột phía bên kia. Những bài học lịch sử chính trị ấy không làm tránh được những cuộc chiến tranh đẫm máu Xô Viết-Trung quốc năm 1969, và Trung quốc –Việt nam mười năm sau đó. Và trong chừng mực nào đấy là những cuộc chiến dân tộc chủ nghĩa trong không gian hậu Xô Viết khi đế chế Liên xô sụp đổ.
Môn lịch sử-chính trị ấy đang bị các học sinh Việt nam từ chối học, như một tin được đưa trên báo Thanh niên gần đây là tỉ lệ học sinh của một ngôi trường trung học tại thủ đô Hà nội chọn môn lịch sử để thi là …không có em nào cả.
Liệu sự tế nhị mà giáo sư Ninh đề cập có tránh được chiến tranh như nó từng xảy ra giữa các quốc gia cộng sản “anh em”? Hay là phải hóa giải những xung đột dân tộc bằng những phương cách khác với sự che dấu (tế nhị) những gì đã thực sự diễn ra?
Và sau cùng sự tế nhị ấy có làm cho học sinh Việt nam trở lại với môn lịch sử? Hay nó chỉ làm những người Việt biểu tình bên bờ hồ Hoàn Kiếm thêm bực bội vì ngày 17/3 vì tế nhị mà nhường bước cho buổi nhảy đầm dưới chân tượng đài vua Lý? Đây dường như là câu hỏi lớn mà cuộc hội thảo vừa qua cũng chưa cho thấy câu trả lời như lo ngại của nhà báo Nguyễn Hữu Vinh khi kết thúc buổi hội thảo rằng nó sẽ dừng lại ở đâu đó mà không tiến triển gì thêm.
Theo Kính Hòa, phóng viên RFA.