Thứ Hai, 11 tháng 8, 2014

Tư duy mới của Trung Quốc về liên minh

http://globaleconomicwarfare.com/wp-content/uploads/2013/05/russia-china-syria-afp-670.jpg
Tháng 12 năm 1949, Mao Trạch Đông – lãnh đạo tối cao của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa non trẻ – đã có chuyến thăm đến Matxcơva để thương lượng trở thành đồng minh quân sự với Liên Xô. Tuy nhiên, trong vòng chưa đến hai thập kỉ sau đó, liên minh quân sự Xô – Trung đã không những sụp đổ mà còn biến thành thế đối đầu căng thẳng cả về quân sự và ý thức hệ. Những nhu cầu cấp bách mang tính chiến lược của đất nước đã buộc giới lãnh đạo Trung Quốc phải xích lại gần với Hoa Kỳ, và từ sau năm 1972, tạo nên một mô hình bán liên minh giữa 2 quốc gia từng có quá khứ thù địch này. Tháng 1 năm 1979, trong chuyến thăm Washington, ông Đặng Tiểu Bình đã tìm cách lôi kéo Hoa Kỳ để phát triển quan hệ hai nước thành đồng minh không chính thức trên thực tế nhằm đảm bảo được Hoa Kỳ ủng hộ trong cuộc xâm lược Việt Nam sắp đến của Trung Quốc. Trong thập kỉ cuối của Chiến tranh Lạnh, Trung Quốc và Hoa Kỳ cũng duy trì quan hệ ở mức hợp tác chiến lược nhằm chống lại Liên Xô.
Hồ sơ của Trung Quốc về chính trị liên minh thời kì Chiến tranh Lạnh do vậy quả thực rất ấn tượng. Tuy vậy, vào những năm đầu của thập niên 1980, mặc dù quan hệ bán liên minh với Hoa Kỳ vẫn được duy trì một cách hạn chế, nhưng những ngôn từ về vấn đề liên minh quân sự đã không còn xuất hiện trong phát ngôn chính thức. Trên thực tế, chủ trương liên minh đã bắt đầu suy giảm khi quan hệ Xô – Trung xấu đi vào cuối những năm 1950, và cuối cùng kết thúc vào năm 1982 khi Đại hội Đảng lần thứ 12 đặt ra “chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập và tự chủ”. Bắc Kinh tuyên bố theo đuổi nguyên tắc không liên kết trong quan hệ với Hoa Kỳ và Liên Xô, nhằm thực hiện chính sách ngoại giao độc lập.2 Có thể nói đây là một bước ngoặt trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc: từ những năm cuối cùng của Chiến tranh Lạnh khi Trung Quốc thực hiện cải cách kinh tế, rồi đến những thay đổi của thập niên 1990 giúp nền kinh tế Trung Quốc phát triển vượt bậc cho đến tận ngày hôm nay, khi quốc gia này đã đánh dấu sự hiện diện một cách rõ ràng trên trường quốc tế, nguyên tắc ngoại giao nhất quán của Bắc Kinh là không liên minh, và xem chính sách liên minh là một di sản của thời kỳ Chiến tranh Lạnh không phù hợp với đạo đức Trung Hoa.
Tuy thế, quan điểm liên minh đang dần trở lại trong cộng đồng học giả và những nhà làm chính sách của Trung Quốc. Những học giả lớn đang đề nghị đánh giá lại nguyên tắc không liên kết trong chính sách đối ngoại của quốc gia. Mặc dù đây chỉ là những ý kiến bên lề, vài năm gần đây luồng tư tưởng mới về liên minh đã xuất hiện và được cổ vũ bởi một số học giả nghiên cứu quan hệ quốc tế nổi tiếng. Vì sao tư tưởng liên minh quay trở lại bàn nghị luận? Tư tưởng này có thể tạo ra những tác động nào đến chính sách? Nguồn gốc đem đến quan điểm mới về liên minh của Trung Quốc về cơ bản cũng tương tự như những nguồn gốc chính sách liên minh trong thời kì Chiến tranh Lạnh: họ cảm thấy bị thúc đẩy bởi những áp lực mang tính chiến lược từ thay đổi trong cấu trúc hệ thống quốc tế. Cũng giống như áp lực từ Hoa Kỳ ngay sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai buộc Trung Quốc phải liên minh với Liên Xô, hay như áp lực từ Liên Xô trong những năm cuối thập kỉ 1960 buộc Trung Quốc phải tìm kiếm liên minh với Mỹ, thì giờ đây, áp lực từ việc Mỹ tăng cường ảnh hưởng tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương – cái mà Mỹ gọi là “xoay trục về châu Á”3 – đã thúc đẩy những nhà bảo thủ ở Trung Quốc phải xem xét lại khả năng sử dụng phương án liên minh như là một lựa chọn trong chiến lược mới của Trung Quốc. Tuy vậy, chúng ta cần phải thảo luận về các nguyên do khác của tư tưởng liên minh mới của Trung Quốc, cũng như giá trị tư tưởng và tác động chính sách của sự thay đổi này.
Quan điểm mới
Trong số những người có đóng góp cho dòng quan điểm về quan hệ quốc tế không chính thống của Trung Quốc đương đại, Diêm Học Thông (Yan Xuetong) từ đại học Thanh Hoa  có thể được xem là một trong những nhân vật gây tranh cãi nhất và ủng hộ mạnh mẽ những chính sách ngoại giao phi chính thống.4 Ông cũng là người kiên định nhất trong số những nhà phân tích Trung Quốc bảo vệ quan điểm liên minh và đã bắt đầu đề xuất ý tưởng này từ năm 2009.5 Năm kế đó, trong một cuộc nói chuyện với sinh viên, ông Diêm nhấn mạnh chủ trương không liên minh là một điểm yếu rất lớn trong chính sách đối ngoại Trung Quốc vì nó đã ngăn cản Trung Quốc cải thiện quan hệ với các nước láng giềng. Quan điểm này dựa trên lý luận có vẻ nghịch lý rằng, khi Trung Quốc trỗi dậy làm tình thế lưỡng nan về an ninh tại Đông Á trở nên nghiêm trọng hơn, một chính sách liên minh tạo ra sự đảm bảo an ninh của Trung Quốc với các quốc gia láng giềng có thể sẽ là cách tốt nhất để làm giảm nhẹ đi sự hoài nghi của họ về sức mạnh Trung Quốc, từ đó giúp tình trạng căng thẳng trong khu vực dịu đi.6
Trong một bài viết được đăng năm 2011 trên Hoàn Cầu Thời Báo, nơi Diêm là cộng tác viên thường trực, ông ta đã tranh luận rằng sự phân phối quyền lực trên thế giới hiện nay thực chất đang phát triển theo hướng “nhị siêu – đa cường” hơn là đa cực (ít nhất là về vật lực), với Trung Quốc và Mỹ dẫn đầu trật tự thế giới.7 Cũng cần lưu ý rằng Diêm đã từng là một thành viên tham gia tích cực trong những cuộc tranh luận chiến lược của Trung Quốc về trật tự thế giới trong nửa đầu thập niên 1990. Các cuộc tranh luận này đã gần đạt được sự nhất trí trong nội bộ Trung Quốc rằng hệ thống quốc tế những năm 1990 được đặc trưng bởi tính chất “nhất siêu – đa cường” với Mỹ là siêu cường duy nhất và Trung Quốc nằm trong phần “đa cường” còn lại. Ở thời điểm hiện tại, sự phát triển kinh tế liên tục của Trung Quốc đã làm cho Diêm cân nhắc lại những đánh giá trước đó của mình, từ đó ủng hộ ý tưởng về một hệ thống lưỡng cực mới nổi lên. Tuy vậy, xét về mặt trật tự chiến lược quốc tế, ông Diêm lại bi quan cho rằng thế đơn cực của Mỹ đã được củng cố mạnh mẽ hơn chứ không hề bị suy yếu, chủ yếu là do chính sách ngoại giao khôn ngoan mà chính quyền Obama đang thực hiện. Diêm cũng cho rằng Trung Quốc hiện là quốc gia duy nhất trên thế giới có thể thách thức hệ thống đơn cực chiến lược xoay quanh Mỹ, bằng cách thiết lập liên minh với Nga.
Năm 2012, Diêm đẩy mạnh kêu gọi chính phủ thay đổi nguyên tắc ngoại giao. Trong một bài báo viết về vấn đề Biển Đông đăng trên tạp chí Vấn Đề Thế Giới (World Affairs), Diêm đã lồng vào đó quan điểm cho rằng chính phủ cần phải từ bỏ chính sách thao quang dưỡng hối và chủ trương không liên kết, lần lượt là hai nền tảng của chính sách đối ngoại Trung Quốc trong suốt 20-30 năm qua. Chủ trương đầu tiên – thường bị hiểu sai lệch là (thực sự) “ẩn mình chờ thời” – được Đặng Tiểu Bình đề ra sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989 và sự sụp đổ của Liên Xô tiếp sau đó.8 Để thay thế thao quang dưỡng hối (tao guang yang hui), Diêm đề xuất chủ trương khiêm khư cẩn thận (qianxu jinshen), có thể tạm dịch là “hành động khiêm tốn và thận trọng”;9 đồng thời, ông cũng đề nghị đưa chiến lược liên minh thay thế cho chính sách không liên kết. Theo ông Diêm, “không liên kết”:
Đồng nghĩa với việc không tạo được những bạn bè gần gũi, tin cậy nhất. Nếu không có những người bạn này, chúng ta không có ai để dựa vào những lúc khó khăn. Việc không có đồng minh cũng không hề làm giảm đi sự lo sợ của những quốc gia khác về sự trỗi dậy của chúng ta. Chính sách không liên kết đã trở thành rào cản ngăn chúng ta đạt được sự hỗ trợ của hầu hết những quốc gia ở khu vực Nam Hải. Nước Mỹ đang lo lắng về việc chúng ta từ bỏ chính sách không liên kết, bởi vì chính sách lược này đã và đang giúp họ cô lập chúng ta. Nhìn ra cả bốn phía của lãnh thổ Trung Quốc, có thể thấy khu vực bình an  nhất là phía Tây và Tây Bắc, và an ninh ở đó dựa trên liên minh bán quân sự của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải. Tóm lại, điều mà Trung Quốc đối mặt hôm nay không phải chỉ là vấn đề điều chỉnh chính sách đối ngoại, mà còn là điều chỉnh nguyên tắc đối ngoại, đó là có nên điều chỉnh các nguyên tắc “thao quang dưỡng hối” và không liên kết hay không.10
Chủ đề thảo luận này được nối tiếp bằng những phân tích cụ thể hơn về sự cần thiết và tính khả thi của một liên minh Nga – Trung. Bắt đầu với tiền đề cho rằng sự mong muốn và tin cậy của bất kì liên minh nào cũng đều được tạo nên bởi sự tương đồng về lợi ích an ninh giữa các thành viên, ông Diêm khẳng định cả Nga và Trung Quốc không thể có được một lựa chọn chiến lược nào tốt hơn là làm đồng minh của nhau. Nga vẫn luôn phải chịu đựng áp lực liên tục và ngày càng tăng của các nước phương Tây kể từ sau kỉ nguyên chiến tranh Lạnh, trong khi Trung Quốc đang phải đối mặt khả năng bị bao vây bởi những quốc gia đồng minh của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Vì thế, việc tìm ra những lợi ích chung giữa hai quốc gia là cần thiết để chống lại sự xâm lấn chiến lược của Mỹ.11
Dù Diêm là người tranh luận tích cực nhất cho chính sách liên minh, ông không hề đơn độc. Và mặc cho việc ông thường có quan điểm công kích hoặc lập trường cứng rắn trong các cuộc tranh luận về chính sách đối nội thì trong vấn đề liên minh này, Diêm  thực chất lại đứng trên quan điểm ôn hòa, cho rằng liên minh Trung – Nga, trước những áp lực ngày càng tăng cao của tình hình quốc tế, sẽ là một liên minh phòng thủ ngăn chặn được tình trạng ngày càng xấu đi của môi trường chiến lược quốc tế.12 Đới Húc (Dai Xu), một đại tá không quân thuộc lực lượng Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA), có quan điểm cứng rắn hơn nhiều. Trong một bài báo đăng tải trên tờ Hoàn Cầu Thời Báo tháng 1 năm 2012, ông đã quả quyết rằng Washington hiện đang triển khai một kế hoạch quân sự nhằm thống trị cả thế giới, lấy khu vực Á – Âu làm chiến trường chính và Nga – Trung chính là hai đối thủ chủ yếu. Chính vì vậy, ông cho rằng Trung Quốc và Nga cần phải thiết lập “đại liên minh Á – Âu” để cùng nhau chống lại thói quen “bắt nạt” những nước yếu và tham vọng tạo nên một đế chế toàn cầu của Mỹ. Điều này đòi hỏi Trung Quốc phải đánh giá lại nguyên tắc không liên kết của mình, đồng thời xem xét chính sách đối ngoại hiện chỉ tập trung vào kinh tế và phát triển hòa bình. Ông Đới đề nghị trong khi thiết lập một thế trận phòng thủ chủ động trên mặt trận trên biển, Trung Quốc cũng đồng thời nên thực hiện một cuộc “trường chinh” vào trung tâm Á – Âu để đánh bại chiến lược bao vây của Mỹ.13
Tư duy cực đoan của ông Đới không được chia sẻ rộng rãi ngay cả trong nội bộ những người ủng hộ thay đổi chính sách không liên kết. Không những vậy, hầu hết người dân Trung Quốc còn xem ông Đới như người đang đứng ngoài ranh giới của sự hiểu biết và độ am hiểu về chính sách, và những lời nói thô lỗ của ông ta khó lòng được cân nhắc một cách nghiêm túc. Một số đề xuất khác có mức độ đóng góp lớn hơn lại đến từ những học giả ít tiếng tăm, điển hình là Trương Văn Mộc (Zhang Wenmu) của trường đại học Hàng không và Vũ trụ Bắc Kinh; chính ông là người đã nhắc đến sự cần thiết của việc nâng cấp mối quan hệ Nga – Trung từ đối tác chiến lược lên thành đồng minh chiến lược. Thay vì trở thành liên minh quân sự để giải quyết xung đột, ông lại nhấn mạnh rằng nhiệm vụ chính của liên minh nên là bảo vệ lợi ích hợp pháp chung của Nga và Trung Quốc trước sự xâm lấn của Mỹ. Ông cũng đồng thời chỉ trích những người tin vào chính sách không liên kết đã hiểu sai bản chất của chính sách đối ngoại Trung Quốc. Theo ông, trọng tâm của chính sách đối ngoại Trung Quốc kể từ năm 1949 đã là độc lập và tự chủ, chứ không phải không liên kết. Ông cảnh báo việc gắn mình vĩnh viễn vào chính sách không liên kết là Trung Quốc đã tự đào hố chôn mình trước khi cuộc xung đột thực sự bắt đầu.14
La Viện (Luo Yuan), một cựu thiếu tướng của PLA và cũng là cựu Phó giám đốc của Phòng Nghiên cứu các Vấn đề Quân sự thuộc Học viện Khoa học Quân sự, người vốn ủng hộ mạnh mẽ cách tiếp cận cứng rắn hơn trong các chính sách ngoại giao của Trung Quốc, thực tế lại tỏ ra hoài nghi về chiến lược liên minh chính thức. Ông đề xuất rằng thay vì phải có đồng minh, Trung Quốc có thể nâng cấp quan hệ với những quốc gia có ý nghĩa chiến lược (bao gồm cả Nga) lên mức độ hợp tác chiến lược cao hơn, từ đó Trung Quốc sẽ có được những liên minh trên thực tế (de facto) mà không lo sợ những cạm bẫy xuất phát từ những liên minh chính thức.15
Một đề xuất về bán liên minh như vậy, đặc biệt là trong mối quan hệ giữa Nga và Trung Quốc, có vẻ như được nhiều người ủng hộ. Điều này đơn giản vì người ta cho rằng bán liên minh sẽ tạo điều kiện cho Trung Quốc được hưởng lợi nhiều hơn từ những lợi thế an ninh được tạo nên từ sự liên kết chiến lược, nhưng cũng đồng thời tránh được những rủi ro, tính bị động và hệ lụy phức tạp mà một liên minh chính thức có thể đem đến.16 Mô hình bán liên minh tương đối ít tốn kém, linh hoạt và tiện lợi nhưng lại không làm mất đi tính độc lập về đối ngoại vốn được ưa chuộng ở Trung Quốc. Cụ thể, một mối quan hệ bán liên minh Trung – Nga, với khả năng định hướng phòng thủ đầy hứa hẹn, được đánh giá có tiềm năng để phát triển thành một mẫu hình quan hệ giữa các cường quốc. Theo Vũ Trịnh Lương (Yu Zhengliang), một mối quan hệ bán liên minh Trung – Nga không phải để thách thức hay thay thế sự độc tôn của Mỹ; nó chỉ là một phản ứng chiến lược đối với tình hình đang leo thang như hiện nay, nhằm có được một mối quan hệ cân bằng với phương Tây và bảo vệ lợi ích chiến lược của Trung Quốc.17 Những đặc tính bên trong của mô hình bán liên minh phần nào giải thích được tại sao nó lại thuyết phục được nhiều nhà phân tích đang lo ngại về việc từ bỏ một cách quá vội vàng những chính sách ngoại giao lâu nay.
Một tiếng nói quan trọng khác trong cuộc tranh luận này thuộc về Đường Thế Bình (Tang Shiping) của trường đại học Phúc Đán. Ông không ủng hộ một chính sách liên minh nào cụ thể, mà thay vào đó đề nghị Trung Quốc cân nhắc lại vai trò của đồng minh trong những bài học quá khứ. Ông Đường chỉ trích quyết định từ chối liên minh của Trung Quốc là một hành động tự lừa dối; ông cũng đồng thời cho rằng chính sách này đã đưa Trung Quốc vào thế bị các quốc gia khác chế nhạo bởi sự không nhất quán khi nói về tầm quan trọng của đồng minh trong suốt chiều dài lịch sử ngoại giao. Ông lập luận rằng,việc xây dựng liên minh không nhất thiết phải là dấu hiệu của “tư tưởng Chiến tranh Lạnh” –  như cái cách mà chính phủ vẫn luôn quả quyết, và rằng ngay cả trong lịch sử, Trung Quốc cũng chưa bao giờ là một quốc gia không liên kết. Ông Đường kết luận, việc chối bỏ vai trò của liên minh như một chiến lược an ninh đã gây cản trở nghiêm trọng lên tư duy chiến lược của Trung Quốc. Từ đó, ông hối thúc chính phủ cân nhắc mọi chiến lược có thể, kể cả có hay không liên quan tới liên minh, nhằm thúc đẩy lợi ích quốc gia mà không nhất thiết phải phá vỡ nguyên tắc đối ngoại độc lập đề ra năm 1982.18 Quan điểm này của ông đã nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ từ nhiều học giả khác, trong đó có Thời Ánh Hồng (Shi Yinhong) của Đại học Nhân dân.19
Áp lực quốc tế, năng lực được cải thiện và những thất vọng trong nước
Vì sao tư duy mới của Trung Quốc về liên minh lại nổi lên vào thời điểm này? Câu trả lời tốt nhất dựa trên chủ nghĩa hiện thực mới: việc xem xét lại các chính sách hiện hành bị thúc đẩy bởi những thay đổi to lớn trong hệ thống quốc tế mà những ràng buộc của hệ thống đó đang chi phối sự vận động của Trung Quốc.20 Những ràng buộc này đang ngày càng thắt chặt hơn do sự tăng cường vị thế bá quyền chiến lược của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Cảm nhận của Trung Quốc về những áp lực chiến lược từ Hoa Kỳ là lý do thường xuyên được họ sử dụng để biện minh cho việc thiết lập các liên minh nhằm chống lại hoặc cạnh tranh với các hệ thống an ninh của Mỹ trong khu vực.
Kenneth Waltz đã nhìn nhận liên minh là giải pháp cân bằng bên ngoài hữu hiệu, có thể bao gồm “các động thái nhằm tăng cường và mở rộng liên minh của mình và làm suy yếu, thu hẹp liên minh của đối thủ”.21 Những nhà phân tích của Trung Quốc đang xem xét cả 2 khía cạnh của chiến lược này: xây dựng liên minh với Nga và các quốc gia khác, đồng thời phá hoại hệ thống liên minh Mỹ bằng cách tạo áp lực lên những đồng minh khu vực của Mỹ, và làm tăng cái giá mà Mỹ phải trả để đảm bảo những cam kết với đồng minh của mình. Hơn nữa, Trung Quốc hiểu rõ khía cạnh chính trị liên minh trong chính sách của Trung Quốc với các nước láng giềng. Trung Quốc tin rằng liên minh với các nước láng giềng có thể giúp tạo sự tin tưởng chiến lược, từ đó xóa đi những nghi ngờ và củng cố thêm sự hợp tác chiến lược, đồng thời làm suy yếu đi sức hấp dẫn của Mỹ trong vai trò là người cung cấp an ninh.22 Ít nhất, xây dựng liên minh với láng giềng cũng có thể giúp Trung Quốc không bị mất thêm những quốc gia thân thiết vốn đã rất ít ỏi, điều đã được minh chứng bằng những thay đổi gần đây ở Miến Điện.
Nếu những ý tưởng trên trở thành hiện thực, sẽ có hai hệ thống liên minh đối lập trên cùng khu vực châu Á – Thái Bình Dương, và kết quả là một phiên bản Chiến tranh Lạnh khác có thể xảy ra ngay tại thế kỉ 21 với cuộc đối đầu của Mỹ và Trung Quốc. Nếu không có gì thay đổi, khu vực này sẽ phải chứng kiến sự hồi sinh của một thực tiễn không mong muốn. Sự trỗi dậy của Trung Quốc và những động thái quyết liệt của nước này23 trong những năm gần đây đã gây nên sự phản ứng mạnh mẽ từ Washington và các nước đồng minh khu vực. Chính điều này khiến Trung Quốc bàn thảo về việc đáp trả tương thích, tập trung vào việc tái thiết lập các quan hệ đồng minh từ lịch sử đối ngoại thăng trầm của họ trong vấn đề này. Người ta có thể lý giải việc này như một ví dụ của tình trạng lưỡng nan về an ninh đang ngày càng tăng cao giữa Trung Quốc và các nước láng giềng vốn đang nhận được hỗ trợ chiến lược từ Mỹ. Những quốc gia láng giềng này, trong lúc tìm kiếm biện pháp thắt chặt an ninh thông qua mở rộng quân sự, đã làm nâng cao sự e dè lẫn nhau. Chính vì thế, mỗi nước đều không ngừng phát triển năng lực quốc phòng và cuối cùng thì không bên nào thực sự đạt được tình trạng an ninh tốt hơn trước đây.24 Người ta có thể diễn giải điều này như là một cuộc cạnh tranh giữa một quyền lực đang lên (Trung Quốc) và một bá chủ thế giới (Mỹ) trong việc thiết lập cấu hình tương lai của trật tự khu vực. Nếu Mỹ tiếp tục “xoay trục” mà không trấn an Trung Quốc, và nếu Trung Quốc thấy cần thiết phải xây dựng chính sách liên minh, thì kết quả tồi tệ nhất có thể là một cuộc đấu tranh giành quyền thống trị chiến lược ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Tuy vậy, áp lực về trật tự khu vực không phải là nguyên nhân duy nhất dẫn đến tư tưởng liên minh mới của Trung Quốc, hoặc nói cách khác là nó không nhất thiết phải dẫn đến tư tưởng này. Nhìn lại lịch sử một chút sẽ làm rõ hơn điều này. Sau thập niên 1980, khi liên minh không còn chiếm vai trò quan trọng trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc, đã có ít nhất hai lần nó có thể được hồi sinh. Từ 1989 đến 1992, việc phương Tây cô lập ngoại giao và ban hành lệnh trừng phạt Trung Quốc sau sự kiện Thiên An Môn, cùng với sự thay đổi trật tự địa chính trị thế giới sau Chiến tranh Lạnh đã đặt Trung Quốc trước những quyết định ngoại giao khó khăn. Giới chức lãnh đạo thảo luận về những tình hình thực tế và cách giải quyết, nhưng ý tưởng hình thành một liên minh chống Mỹ, với sự tham gia của nước Nga non trẻ, đã không nhận được nhiều quan tâm. Gần 10 năm sau đó, năm 1999, một cuộc tranh luận nổ ra sau khi NATO đánh bom Đại sứ quán Trung Quốc ở Belgrade trong cuộc chiến Kosovo. Lần này, cuộc tranh cãi không chỉ diễn ra trong nội bộ giới lãnh đạo Bắc Kinh, mà còn diễn ra sôi nổi giữa những nhà phân tích không thuộc chính phủ. Tuy nhiên, tương tự như trước, tư tưởng liên minh đã hầu như không gây được sự chú ý nào.25
Việc những áp lực trong quá khứ khá tương tự như ngày nay, nhưng lại không đem đến sự thay đổi trong tư duy về liên minh như bây giờ đã cho thấy áp lực chỉ là một phần nguyên nhân. Phần còn lại chính là do sự tăng cường vị thế quyền lực của Trung Quốc, cũng như những thay đổi trong tranh luận nội bộ về vấn đề ngoại giao. Khi nào một đất nước muốn liên minh với nước khác? Lý thuyết cân bằng quyền lực theo chủ nghĩa hiện thực mới cho rằng đó là khi những quốc gia còn lại muốn tạo nên vị thế cân bằng với quốc gia quyền lực nhất trong hệ thống.26 Có lẽ, khoảng cách quyền lực càng lớn chừng nào thì các quốc gia yếu lại càng có xu hướng muốn tạo được sự cân bằng chừng đó, trừ khi quốc gia thống trị kia quá vượt trội đến nỗi sự cân bằng thông thường không thể hoạt động được.27 Mặt khác, thuyết cân bằng lại mối đe dọa  chỉ ra rằng các quốc gia thường liên kết chống lại quốc gia có mức độ đe dọa cao hơn, với mức độ đe dọa được xác định bởi tổng hợp những yếu tố như nguồn lực sức mạnh, sự gần kề về địa lý, khả năng gây ảnh hưởng và những chính sách cho thấy khả năng gây nguy hiểm.28
Trường hợp của Trung Quốc, tuy thế, lại đặt ra thách đố cho cả hai lý thuyết. Nếu thuyết cân bằng quyền lực là đúng, thì xu hướng cân bằng quyền lực với Mỹ đáng lẽ phải dần giảm bớt sau thời kì Chiến tranh Lạnh, vì Trung Quốc đã và đang dần bắt kịp với Mỹ về mức độ phát triển. Thế nhưng những tranh cãi về liên minh lại bùng lên vào thời điểm Trung Quốc đạt được vị trí thứ hai thế giới về kinh tế, chứ không phải lúc quốc gia này bị bỏ xa phía sau. Vì vậy, khi các nhà phân tích như Diêm Học Thông nói rằng Trung Quốc hiện gần như ở cùng cấp độ quyền lực với Mỹ và đang tạo nên một hệ thống hai cực mới, ông đang muốn nhắc đến sự cân bằng quyền lực; mặc dù, nếu nhìn từ góc độ của quyền lực tương đối thì Trung Quốc lúc này ít có nhu cầu cân bằng quyền lực hơn so với giai đoạn sau Chiến tranh Lạnh. Mặt khác, nếu thuyết cân bằng lại mối đe dọa là đúng, thì những tranh luận về liên minh lẽ ra phải xuất hiện nhiều lần từ sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Và chắc chắn một điều là những tranh cãi này đáng lẽ không thể nào căng thẳng hơn những thời điểm như năm 1999, khi mà máy bay Mỹ đã thực sự đánh bom đại sứ quán Trung Quốc.
Một nguyên nhân khác cho việc xuất hiện nhu cầu liên minh khi Trung Quốc mạnh lên là sự thông hiểu đặc biệt của nước này về chính trị liên minh. Theo đó, Trung Quốc cần phải xây dựng các liên minh khi sức mạnh của quốc gia này bằng hoặc mạnh hơn so với các đối tác liên minh; và khi Trung Quốc không quá thua kém so với quốc gia mà họ muốn cân bằng quyền lực. Các nhà phân tích Trung Quốc đã nhận thức được rằng trong những liên minh trước đây với Liên Xô và Mỹ, Trung Quốc, với tư cách là bên yếu hơn, luôn gặp bất lợi hơn, đặc biệt là trong mối quan hệ với Liên Xô. Họ do đó muốn đảo ngược sự bất đối xứng này trong những liên minh tương lai, với Trung Quốc ở phía mạnh hơn, hoặc ít nhất là cân bằng. Nhiều người cho rằng việc thiết lập liên minh với Nga sẽ không tạo ra bất kì rủi ro nào cho Trung Quốc, vì sức mạnh của họ giờ đây đã ngang ngửa và rất có thể sẽ mạnh hơn Nga trong tương lai.29 (Điều này sẽ còn đúng hơn nữa khi xét các mối liên minh khác, với các quốc gia yếu hơn). Những nhà phân tích cũng tin rằng khả năng hiện nay của Trung Quốc sẽ biến liên minh thành một chiến lược hiệu quả và quan trọng giúp họ cân bằng quyền lực với Mỹ, chứ không như thời điểm đầu những năm 1990, khi cân bằng bên ngoài không giúp gì nhiều cho Trung Quốc vì sự yếu kém về vật lực của họ. Dưới góc nhìn này, tư duy mới về liên minh được kích thích bởi vị trí quyền lực được củng cố của Trung Quốc sau ba thập kỉ phát triển chóng mặt về kinh tế. Đối với nhiều nhà phân tích Trung Quốc, đạt được vị trí thứ hai trong quyền lực quốc tế là ngưỡng giới hạn để cân bằng bên ngoài bắt đầu phát huy tác dụng, khi họ không quá thua kém nước đứng đầu – đối thủ để cân bằng quyền lực, và mạnh hơn phần còn lại – những nước có thể thành đồng minh.
Cuối cùng, tư tưởng mới về liên minh cũng là một hệ quả của sự thiếu kiên nhẫn, không thỏa mãn và giận dữ của những nhà phân tích với những chính sách hiện tại. Sự giận dữ đã không ngừng tăng từ cuối thập niên 1990, một phần do Trung Quốc nới lỏng kiếm soát những cuộc thảo luận giữa các học giả. Sự vắng mặt của những ý tưởng liên minh trong giai đoạn 1989-92 có thể được lý giải một phần bởi sự yếu kém của Trung Quốc. Một nguyên nhân khác quan trọng hơn nhiều là do sự xuất hiện của một tư tưởng ngoại giao chính thống mới được đặt ra và bảo trợ bởi Đặng Tiểu Bình, đó là chính sách thao quang dưỡng hối đã được nhắc đến ở phần trên. Tư tưởng ngoại giao này bao gồm cả nguyên tắc không liên kết, thông qua việc giấu mình chờ thời, ủng hộ cách tiếp cận thụ động và dè chừng. Chủ trương ngoại giao này thực sự phát huy tác dụng vào giai đoạn thập niên 1990. Tuy vậy, ngày nay, tính hữu ích của nó đã bị đặt một dấu hỏi bởi một lượng đông đảo những nhà phân tích cánh tả và cánh hữu. Phe cấp tiến, vốn ủng hộ quan điểm liên minh mới, chỉ ra rằng những chính sách ngoại giao cũ thời ông Đặng Tiểu Bình đã không còn phát huy tác dụng, và thậm chí, nó còn trói buộc chính sách ngoại giao Trung Quốc trong sự nhu nhược. Một lần nữa, Diêm Học Thông lại chứng minh vì sao ông là một nhà phê bình nổi tiếng. Ông cho rằng một chính sách đối ngoại chú trọng phát triển kinh tế quốc gia sẽ trở nên lỗi thời một khi những lợi ích về an ninh trở thành vấn đề cấp thiết hơn những lợi ích về kinh tế. Và giải pháp liên minh không chỉ là một sự phản ứng lại tình trạng xấu đi của môi trường an ninh Trung Quốc, mà nó cũng được ca ngợi là sẽ cứu vãn những thất bại trong chính sách đối ngoại gần đây của nước này. Cụ thể hơn, ông cho rằng thiết lập quan hệ đồng minh có thể tăng cường thẩm quyền đạo đức và mức độ khả tín chiến lược của Trung Quốc, mà việc thiếu những phẩm chất này được coi là những vấn đề nghiêm trọng trong môi trường quốc tế ngày nay.30 Đối với Diêm và một số nhà phê bình trực ngôn khác, sự bất mãn với chính sách hiện thời trở nên sâu sắc hơn bởi chính phủ có vẻ vẫn gắn bó với tư tưởng ngoại giao đã 20 năm tuổi của ông Đặng Tiểu Bình và làm ngơ trước những lời kêu gọi quyết liệt từ phía những nhà phân tích. 

Chủ Nhật, 10 tháng 8, 2014

Dân ta giàu nhất thế giới

Hắn đến Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Thụy Điển … thăm thú, thấy dân những nước này nghèo kiết xác, nghèo đến mức chẳng ai có cái xe đạp mà đi, cái máy điện thoại mà dùng.
Ánh lửa đốt vàng mã bập bùng trên các đường phố Hà Nội
Ánh lửa đốt vàng mã bập bùng trên các đường phố Hà Nội
Về thăm người bạn thời chăn trâu cắt cỏ, đang sống ở một bản hẻo lánh tỉnh miền núi. Ngồi tâm sự chuyện trên trời dưới biển, bạn tôi tự hào:
- Dân ta giầu nhất thế giới. Còn dân Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Thụy Điển… nghèo lắm, chẳng đáng gì so với ta.
Tôi mắt tròn mắt dẹt, hỏi:
- Căn cứ vào đâu mà ông nói thế?
Bạn tôi bảo:
- Thằng Tèo sống đầu bản nói thế!
- À, cái thằng Tèo ấy, tôi biết. Nhưng cả đời hắn chưa ra khỏi cái bản này, đến cái thành phố Hà Giang trong tỉnh nhà, từ lúc cất tiếng chào đời đến giờ, hắn còn chưa hề đặt chân đến, làm sao biết được là dân Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Thụy Điển đời sống thấp hơn dân ta nhiều.
Bạn tôi bảo:
- Này, đừng coi thường hắn nhé. Hắn đã đặt chân đến tận các nước đó thăm thú và sau khi quan sát mục tại sở thị mới rút ra nhận định đó đấy. Chắc như đinh đóng cột, không ai có thể bác bỏ được.
Tôi càng ngạc nhiên:
- Hắn đến tận những nước ấy? Tiền mua con trâu mà chẳng có, vậy lấy tiền đâu mà đi tới đó được.
Bạn tôi giảng giải:
- Tèo nó đâu có đi bằng tiền, mà đi bằng cách khác. Ấy là một lần ốm nặng, đã chết lâm sàng. Gia đình đã đóng quan tài chuẩn bị khâm liệm thì hắn bừng tỉnh, sống lại. Hắn bảo: “Khi hồn mình lìa khỏi xác, đi phiêu diêu khắp nơi ở cõi âm, thích đến nước nào, mình chỉ cần nghĩ là đã có mặt ngay ở nước đó. Vì vậy, mình đến Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Thụy Điển ở cõi âm… thăm thú, thấy dân những nước này nghèo kiết xác, nghèo đến mức chẳng ai có cái xe đạp mà đi, cái máy điện thoại mà dùng. Còn Việt Nam ta thì đầy ô tô, xe máy, điện thoại di động loại xịn hàng trăm triệu. có người còn có cả máy bay riêng.
Tôi vỡ lẽ:
- Nghĩa là người Việt ta chết đi, sống ở cõi âm, giầu hơn người Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Thụy Điển …dưới đó gấp bội lần chứ gì. Hiểu, ông nói thế thì tôi hiểu rồi. Bởi vì người các nước Âu châu nói trên không có phong tục đốt vàng mã gửi cho những thân nhân đã chết, còn ở Việt Nam lại có, nên ngày giỗ, tết, những linh hồn người Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Thụy Điển ở dưới đó chẳng có gì, còn linh hồn người Việt Nam  nhận được nhiều tài sản con cháu trên trần tài trợ đốt gửi xuống lắm. Chẳng phải chỉ có ô tô, máy bay, điện thoại di động cao cấp mà còn có cả biệt thự, thậm chí con cháu trên trần còn đốt cả hình nhân ôsin gửi xuống nữa. Trong dịp lễ Vu Lan này, nhiều gia đình ở Hà Nội phóng tay tiêu hàng triệu, thậm chí hàng trăm triệu đồng cho tục lệ đốt vàng mã, ngoài những thứ quần áo, giày dép, tiền vàng, họ còn đốt gửi các loại đồ mã cao cấp như nhà biệt thự siêu sang "dát vàng" có kèm số đỏ, đồ hàng mã thương hiệu nổi tiếng đang được ưa chuộng: như Iphone, Ipad hoặc các loại xe ô tô hạng sang:Rolls - Royce, Bugatti Veyron. Theo số liệu thống kê, trung bình một năm có khoảng 50.000 tấn vàng mã được sử dụng. Riêng Hà Nội nhẩm tính hiện có khoảng 1,7 triệu hộ gia đình với khoảng 6,2 triệu dân. Nếu dịp này, mỗi gia đình bỏ ra 100.000 đồng, toàn thành phố sẽ “hóa vàng” ít nhất là 160 tỷ đồng. Còn trong một năm dân Hà Nội đốt khoảng 4.800 tỷ đồng cho 30 dịp Lễ, Tết.
Bạn tôi kinh ngạc:
- Eo ôi! Sao dân ta lại có thể lãng phí tiền của ghê gớm vậy nhỉ?
Tôi lúng túng:
- Cũng chẳng hiểu nổi nữa. Chỉ biết rằng đời nhà Chu cách đây 1.122 trước công nguyên, bên Trung Quốc có tục lệ ai chết đi thì tất cả những vật dụng quý giá của họ khi còn sống kể cả thê thiếp, thuộc hạ được sủng ái cũng đều phải chôn sống theo. Về sau tục lệ vô nhân đạo này đã được bãi bỏ để thay vào đó làm bằng giấy thay cho đồ thật để đốt đi sau khi cúng bắt đầu từ đó cho đến tận ngày nay ở nhiều nước Á Đông. Việt Nam cũng ảnh hưởng ở tục lệ đó đem vàng mã đốt gửi cho người đã chết. Cứ tưởng ngày càng văn minh thì tục đốt vàng mã càng giảm đi, nào ngờ lại càng bùng phát mạnh hơn.

Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2014

MH17: Cuộc tỉ thí các “đại gia” và thân phận nước nhỏ

Sự vất vả của Hà Lan, Malaysia khi lấy lại di hài công dân và tham gia điều tra cho thấy số phận của nước nhỏ trong bàn cờ của nước lớn.
Trong cuộc gặp gia đình các nạn nhân của vụ tai nạn chuyến bay MH17 tại Kuala Lumpur (Malaysia) hôm chủ nhật 20-7, Thủ tướng Najib Razak tâm sự: “Là một nhà lãnh đạo, chưa bao giờ tôi lại phải đau lòng như những gì tôi đã trải qua những ngày qua. Vợ mất chồng, cha mất con”.
Ông Razak nhấn mạnh ông muốn di hài các nạn nhân người Malaysia sẽ được đưa ra khỏi vị trí vụ tai nạn ở miền đông Ukraine để được chôn cất tại quê nhà kịp trước lễ Aidilfitri (kết thúc tháng chay Ramadan).
Cũng thế, trên trang web của Chính phủ Hà Lan hôm 20/7, Thủ tướng Mark Rutte đã báo cáo với dân chúng Hà Lan đang đau lòng trước cái chết của 193 công dân nước họ:
“Hôm nay tôi lại có một số cuộc đàm thoại với các đối tác của tôi, trong đó có Thủ tướng Đức Angela Merkel và Thủ tướng Anh David Cameron, và tối nay tôi sẽ nói chuyện với Tổng thống Nga Putin một lần nữa. Tất cả nhằm đạt được ưu tiên số 1 của chúng tôi là gây áp lực lên tất cả các bên liên quan để đưa hài cốt các nạn nhân về”.
Tìm đến di hài các nạn nhân
Lẽ ra đây là một công việc không đến nỗi khó khăn nếu như địa điểm xảy ra tai nạn trong lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền trọn vẹn. Thế nhưng ở Ukraine đã và đang bị xâu xé như hiện nay, đây lại là điều có thể “bất khả”.
Trước hết là cách mà các tử thi được/bị quy tập. Cáo giác của Ngoại trưởng Mỹ John Kerry trong năm cuộc phỏng vấn truyền hình tối 20/7 từ Boston: “Chúng tôi có báo cáo về những kẻ ly khai say xỉn chất đống di hài của nạn nhân lên xe tải một cách bất kính”.
Điều “bất kính” đối với thi hài các nạn nhân mà ông Kerry đề cập cũng đã được Thủ tướng Hà Lan Rutte thuật lại trên trang web của Chính phủ nước này tối chủ nhật 20/7: “Đã có nhiều báo cáo ngày hôm nay về một đoàn xe lửa gần địa điểm vụ tai nạn có chứa một số lượng lớn tử thi”.
Tất nhiên đó là các toa xe đông lạnh và sự bảo quản các thi hài này tốt, theo ghi nhận của một trong hai chuyên gia pháp y Hà Lan khi được tiếp xúc các thi hài này. Song cách thức mà các tay súng ly khai bị cho là “say xỉn” chất các thi hài đó lên các toa xe lửa lại là “bất kính”, tuy rằng không khó hiểu khi các tay súng đó phải làm một công việc “nặng nề” không quen.
Trong những ngày đầu ngay sau tai nạn, phe ly khai - vốn là nhóm ô hợp, không chính quy, không có ban bệ chỉ huy rõ ràng - quả là đã hành xử “không chính quy” trong việc giải quyết thảm họa này, buộc thiên hạ phải lần lên trên, tức Tổng thống Nga Vladimir Putin.
Thủ tướng Hà Lan Rutte thuật tiếp: “Mọi nỗ lực nay đang nhằm di chuyển đoàn tàu này đến khu vực do Chính phủ Ukraine kiểm soát. Bộ trưởng ngoại giao Frans Timmermans hôm nay đã gọi điện thoại cho Ngoại trưởng John Kerry để thảo luận về điều này”.
 Thi thể các nạn nhân MH17 được chuyển về Hà Lan.
Về phần Malaysia, cũng những truân chuyên tương tự, mãi đến tối thứ hai (giờ Ukraine), sáng thứ ba 22/7 (giờ Malaysia), Thủ tướng Razak mới thở phào khi thông tin trên website Phủ thủ tướng về 44 công dân Malaysia thiệt mạng trong tai nạn này:
“Trong những ngày gần đây, chúng tôi đã làm việc trong hậu trường để thiết lập liên lạc với những người phụ trách địa điểm tai nạn MH17. Trong những điều kiện khó khăn và không thông suốt, chúng tôi đã thảo luận về những vấn đề mà tất cả chúng ta đều quan tâm: bảo toàn những bằng chứng quan trọng từ chiếc máy bay, mở ra một cuộc điều tra độc lập, và trên tất cả là quy tập di hài của những người bị tước mất mạng sống”.
Theo thỏa thuận mà Thủ tướng Razak thông báo, hai hộp đen của chiếc MH17 đã được bàn giao cho một đội của Malaysia tại Donetsk để giám sát. Và điều quan trọng hơn là các điều tra viên quốc tế độc lập sẽ được đảm bảo tiếp cận an toàn địa điểm tai nạn để bắt đầu một cuộc điều tra đầy đủ về vụ việc.
Di hài các nạn nhân được chuyển bằng xe lửa đến Kharkiv để bàn giao cho đại diện đến từ Hà Lan trước khi đưa đến Amsterdam trên một máy bay C130 Hercules của Hà Lan. Sau các thủ tục pháp y cần thiết, di hài các công dân Malaysia sẽ được đưa về quê nhà bằng máy bay.
“Chỉ sau đó, cuộc điều tra vụ MH17 mới có thể thật sự bắt đầu và các nạn nhân mới có thể được nhận sự tôn trọng đáng có. Chúng ta cần phải biết những gì khiến máy bay rơi và những người chịu trách nhiệm về việc này, sao cho công lý có thể được thực thi” - Thủ tướng Razak nhấn mạnh.
Nén giận vì đại cuộc
Qua trình thuật trên của thủ tướng Malaysia, có thể hình dung bao truân chuyên mà phía Malaysia, từ toán cứu hộ thảm họa gồm 62 người đến nơi ngay sau tai nạn, đến Bộ trưởng giao thông Liow Tiong Lai và Ngoại trưởng Anifah Aman lần lượt đến nơi trong ngày thứ hai 21/7.
Các chuyên gia Malaysia tại khu vực MH17 rơi. 
Cho dù có muốn tự kiềm chế, song cuối cùng Thủ tướng Razak cũng phải thố lộ với toàn dân Malaysia: “Trong những ngày gần đây, đã có lần tôi muốn cất tiếng nói lớn hơn cho nỗi tức giận, đau buồn mà người dân Malaysia đang cảm nhận và cả những gì tôi cảm nhận nữa. Nhưng đôi khi chúng ta phải thinh lặng làm việc vì một kết quả tốt đẹp hơn”.
Trong một thông báo khác trên website Chính phủ Malaysia, Thủ tướng Razak cũng đã vất vả giải thích tin đồn Hãng hàng không Malaysia Airlines đã lại chọn lộ trình bay qua Syria để tiết kiệm nhiên liệu: “Kế hoạch bay của chuyến bay MH004 là phù hợp với các đường bay đã được Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (ICAO) phê duyệt. Theo thông báo cho phi công của Cơ quan Hàng không dân dụng Syria, không phận Syria không bị hạn chế. Trong mọi lúc, đường bay của MH004 là trong không phận được ICAO chấp thuận”.
Chuyến bay định mệnh MH17 mà một số dư luận cho là liều mạng bay vào vùng chiến sự ở Ukraine để tiết kiệm nhiên liệu, cũng đã bay theo lộ trình được ICAO phê duyệt (không ít hãng hàng không khác chỉ sau thảm họa MH17 mới đổi đường bay).
Vấn đề là ICAO cũng như các hãng hàng không này đã yên chí rằng ở Ukraine hay Syria, cho dù có nội chiến, song không một kẻ nào lại có thể được phép hay tự tiện bấm nút tên lửa đối không tầm cao ở cao độ 10.000m trở lên như thế, bất quá “du kích” bắn tên lửa cầm tay lên độ cao dăm ba ngàn mét.
Hà Lan, với chỉ trên 16 triệu dân cùng một diện tích vỏn vẹn 43.000km2, trong đó 18% dưới mặt nước biển, quả là “mỏng manh” trước những “đại gia”. Cũng thế, Malaysia đang chủ trương “tránh voi chẳng xấu mặt nào” cũng bị lôi vào thảm họa MH370 rồi nay MH17. Thủ tướng Malaysia Razak hôm thứ hai 21/7 chua chát tố cáo: “Đây là điều xảy ra khi có bất cứ cuộc xung đột nào mà không thể được giải quyết thông qua đàm phán trong hòa bình. Cuối cùng ai sẽ trở thành nạn nhân?”.
Ông Razak muốn nói đến cuộc tỉ thí địa chính trị Nga - Mỹ ở Ukraine? Trên 500 thường dân mất tích và thiệt mạng trên các chuyến bay MH370 và MH17, cũng chừng ấy người thiệt mạng trong cuộc xung đột ở dải Gaza từ hai tuần qua. Sinh mạng con người quá rẻ trong các tính toán của các “đại gia”!

Điểm lại 7 vụ tai nạn máy bay thảm khốc trong tháng 7

Tính cho tới thời điểm này, các vụ tai nạn hàng không (kể cả dân sự và quân sự) đều gây ra những tổn thất về người và của to lớn.
1. Trên lộ trình từ Amsterdam (Hà Lan) tới Kuala Lumpur (Malaysia) ngày 17/7, khi đi qua vùng miền đông đầy chiến sự của Ukraine, chiếc máy bay Boeing 777 mang số hiệu MH17 đã trúng tên lửa và rơi xuống cánh đồng ỏ làng Grabovo, tỉnh Donetsk, khiến toàn bộ 298 người thiệt mạng. Cho tới nay, nguyên nhân vụ bắn rơi trên vẫn chưa được sáng tỏ.
2. Một vụ tai nạn máy bay thương tâm khác mới xảy ra ở Đài Loan vào ngày 23/7. Theo đó, ở lần hạ cánh khẩn cấp thứ 2 xuống sân bay Mã Công (đảo Bành Hổ), phi công máy bay ATR72 mang số hiệu chuyến bay GE222 đã đâm vào nhà dân xung quanh sân bay và bốc cháy, khiến 48 người thiệt mạng và 10 người bị thương. Tại thời điểm gặp nạn, bão Matmo đang đổ bộ vào đảo này, gây mưa to, gió lớn.
3. Ngày 24/7: Cơ quan quản lý hàng không Algeria thông báo mất liên lạc với máy bay MD-83 mang số hiệu AH5107 (của hãng hàng không Air Algerie), bay từ Ouagadougou ở Burkina Faso tới Algiers sau khi cất cánh 50 phút. Trên máy bay, tổng cộng có 110 hành khách và 6 thành viên phi hành đoàn. Theo thông tin ban đầu, máy bay trên đã bị rơi xuống khu vực gần Niamey, thủ đô Niger.
4. Khoảng 7h46 phút sáng 7/7, máy bay trực thăng Mi-171 mang số hiệu 01 của Trung đoàn Không quân trực thăng 916, Sư đoàn Không quân 371, thuộc Quân chủng Phòng không-Không quân Việt Nam bay huấn luyện nhảy dù bị rơi. Vụ tai nạn làm 16 đồng chí hy sinh và 5 đồng chí bị thương. Nguyên nhân vụ việc là do động cơ máy bay bị tụt công suất đột ngột.
 
 5. Ngày 14/7, 6 sĩ quan (trong đó có 2 vị tướng cấp cao) trong Quân đội Hoàng gia Campuchia đã thiệt mạng khi chiếc trực thăng quân sự do Trung Quốc sản xuất Harbin Z-9 chở họ bị rơi ở địa điểm cách thủ đô Phnom Penh 12 km theo hướng nam.
  
6. Vào ngày 17/7, chiếc trực thăng cứu hỏa của Hàn Quốc đã bị rơi xuống gần khu chung cư ở tỉnh Gwangju, làm ít nhất 5 người thiệt mạng. Trực thăng này đang trên đường trở về căn cứ sau khi tham gia công tác tìm kiếm xác các nạn nhân mất tích trong vụ chìm phà Sewol.
7. Ngày 23/7, một máy bay đã bị rơi trên Thái Bình Dương khiến phi công 17 tuổi Haris Suleman (Mỹ) tử nạn và cha cậu vẫn đang mất tích. Được biết, hai cha con họ hi vọng đi vòng quanh thế giới để quyên góp tiền xây dựng trường học cho các trẻ em nghèo ở Pakistan.

Thứ Sáu, 8 tháng 8, 2014

Lịch Sử Hay Tiểu Thuyết?

Lịch sử phải là những câu chuyện có thật
history ed
Cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Trung quốc thường được nói tránh đi trong các văn bản chính thức, trong các bài giáo khoa lịch sử. Lịch sử có nên được trình bày bằng cách thức như vậy để tránh xung đột hay không?
Sự tế nhị mang tên Trung quốc
Các dân tộc cổ xưa sống cạnh nhau không tránh khỏi những mối hiềm khích. Những hiềm khích ấy vẫn còn là những xung đột, lúc ngấm ngầm lúc công khai giữa thời buổi của công nghệ thông tin mà nhiều người tin rằng nhân loại đang đi đến một thế giới phẳng. Người Nga và Ukraine đang thượng cẳng chân hạ cẳng tay với nhau. Người Nhật và người Trung quốc lời qua tiếng lại suốt hai năm nay. Và ở chiều ngược lại, những cảm xúc dân tộc chủ nghĩa đó ở Việt Nam lại đang được dồn nén lại, dồn nén tới mức tên của quốc gia gây ra cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 là Trung quốc không được nêu lên.
Một hội thảo tại Hà nội mang tên “Bảo tồn và phát huy những giá trị lịch sử của các cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới, hải đảo và chủ quyền quốc gia thời hiện đại” có vẻ muốn làm một điều gì đó đột phá trong cách thức mà những kiến thức lịch sử được truyền tải trong xã hội hiện nay. Trong lời phát biểu kết thức cuộc hội thảo của Giáo sư Phan Huy Lê được TS Nguyễn Xuân Diện ghi lại trên blog của ông như sau: Sách Giáo Khoa (SGK) đã đọc lại hết từ phổ thông, riêng về chiến tranh biên giới Tây Nam và phía Bắc là có, nhưng rất ngắn. Đến mức tôi đọc cũng không hiểu nổi. Vậy các học sinh sẽ học như thế nào. Còn riêng với Hoàng Sa – Trường Sa  không có chữ nào về chủ quyền.
Các cuộc chiến tranh mà cuộc hội thảo trên nêu ra đều có liên quan đến Trung quốc. Và lịch sử nói về những cuộc chiến tranh này không được thực hiện như bản thân môn lịch sử phải có là kể lại trung thực những câu chuyện đã xảy ra. Có vẻ như sự thể lại rắc rối hơn khi hai quốc gia láng giềng có lịch sử xung đột với nhau là Trung quốc và Việt nam lại có cùng một mô hình chính trị xã hội là chế độ cộng sản.
Sự rắc rối này thể hiện ở từ tế nhị mà GS Vũ Dương Ninh dùng trong phát biểu với biên tập viên Mặc Lâm của đài Á châu tự do,
Có một cái sự tế nhị vô hình nào đó luôn ngăn cản việc này. Chúng tôi cho là đơn giản, lịch sử là lịch sử ta cứ đưa vào, nhưng không đơn giản như vậy. Cuối cùng thì thôi ta phải đưa vào nhưng có lẻ mức độ thôi. Mức độ là thế nào? Lúc đầu viết 3 trang 4 trang sau coi đi coi lại mãi cuối cùng được 12 dòng! Khi trả lời nhà báo tôi nói đây là sự cố gắng rất lớn nhưng có lẻ họ không thể hiểu được cố gắng ấy như thế nào.
Có phần chắc là sự tế nhị đó nằm trong sự tương đồng về thể chế chính trị “anh em” của hai nước, vì sự tế nhị tương tự không hề được nêu lên trong những bài học lịch sử có liên quan đến cuộc can thiệp quân sự của người Mỹ vào Việt nam trước đây. Nhưng sự tế nhị đó không tránh được các cuộc biểu tình chống Trung quốc nổ ra mỗi khi có ngư dân trên biển Đông bị lực lượng hải giám Trung quốc đánh đập, không ngăn được lời phát biểu chống ảnh hưởng của Trung quốc của Giáo sư Nguyễn Huệ Chi khi ông được hỏi về việc thành lập Khổng tử học viện tại Việt Nam,
“Đối với sự xâm lấn về tư tưởng về văn hóa của người Tàu đã trở thành máu, tôi không cho rằng những cái gì người Tàu làm là tốt.”
Mặc dù với tư cách một chuyên gia trong lĩnh vực Hán Nôm, ông rất tường tận về sự ảnh hưởng của văn hóa Hán trong xã hội Việt nam.
Lịch sử dưới mái trường xã hội chủ nghĩa
Lịch sử được giảng dạy dưới mái trường xã hội chủ nghĩa do những người cộng sản điều hành không đơn giản là là những câu chuyện xưa được kể lại một cách trung thực, mà theo những người cộng sản thì nó phải mang tính giai cấp. Tức là nó phải mang quan điểm của giai cấp lãnh đạo mà cụ thể là đảng cộng sản. Do vậy lịch sử dưới mái trường xã hội chủ nghĩa mang tính chính trị rất cao, và thời lượng được tập trung rất nhiều vào giai đoạn từ khi đảng cộng sản ra đời, 1930, trở về sau, tức là vỏn vẹn chưa đầy 100 năm trên hơn 2000 năm của lịch sử dân tộc nếu kể từ khi có những văn bản ghi chép đầu tiên.
Cũng chính vì học thuyết giai cấp ấy trong môn lịch sử mà rất ít học sinh Việt Nam biết về cuộc xâm lăng miền Đông Ba Lan của Liên Xô đầu thế chiến thứ hai, hay là những cuộc nổi dậy Budapest tại Hungary năm 1956, Prague tại Tiệp Khắc năm 1968.
Trong những bài học lịch sử mang tính chính trị, thế giới cộng sản được hình dung là các nước anh em, vào thời hoàng kim của nó gồm 13 nước, chống lại hệ thống tư bản bóc lột phía bên kia. Những bài học lịch sử chính trị ấy không làm tránh được những cuộc chiến tranh đẫm máu Xô Viết-Trung quốc năm 1969, và Trung quốc –Việt nam mười năm sau đó. Và trong chừng mực nào đấy là những cuộc chiến dân tộc chủ nghĩa trong không gian hậu Xô Viết khi đế chế Liên xô sụp đổ.
Môn lịch sử-chính trị ấy đang bị các học sinh Việt nam từ chối học, như một tin được đưa trên báo Thanh niên gần đây là tỉ lệ học sinh của một ngôi trường trung học tại thủ đô Hà nội chọn môn lịch sử để thi là …không có em nào cả.
Liệu sự tế nhị mà giáo sư Ninh đề cập có tránh được chiến tranh như nó từng xảy ra giữa các quốc gia cộng sản “anh em”? Hay là phải hóa giải những xung đột dân tộc bằng những phương cách khác với sự che dấu (tế nhị) những gì đã thực sự diễn ra?
Và sau cùng sự tế nhị ấy có làm cho học sinh Việt nam trở lại với môn lịch sử? Hay nó chỉ làm những người Việt biểu tình bên bờ hồ Hoàn Kiếm thêm bực bội vì ngày 17/3 vì tế nhị mà nhường bước cho buổi nhảy đầm dưới chân tượng đài vua Lý? Đây dường như là câu hỏi lớn mà cuộc hội thảo vừa qua cũng chưa cho thấy câu trả lời như lo ngại của nhà báo Nguyễn Hữu Vinh khi kết thúc buổi hội thảo rằng nó sẽ dừng lại ở đâu đó mà không tiến triển gì thêm.
Theo Kính Hòa, phóng viên RFA.

Thứ Năm, 7 tháng 8, 2014

Sự thật bất ngờ về kẻ ám sát Tổng thống Kennedy

Ít ai có thể ngờ rằng Lee Harvey Oswald - sát thủ ám sát Tổng thống John F. Kennedy năm 1963 từng quan tâm đến chủ nghĩa cộng sản.

 

Thứ Hai, 4 tháng 8, 2014

Vanga tiên tri gì về hành trình kết thúc sự sống?

Vanga tiên đoán, sự sống trên Trái đất sẽ kết thúc và nhân loại sẽ bắt đầu cuộc sống mới trên một “hệ Mặt trời” khác. 
Nhà tiên tri mù nổi tiếng thế giới Vanga không thể giải thích được khả năng nhìn thấy những sinh vật vô hình và dự đoán tương lai của mình. Theo bà, những sinh vật bí ẩn ấy đến từ hành tinh Vamphim mà người trần mắt thịt không thể nhìn thấy. Những hình nhân xa lạ ấy đã nói cho bà biết hết những thông tin về mọi người trên thế giới. Bà và những sinh vật kỳ lạ ấy có thể trao đổi với nhau mà không gặp rào cản về khoảng cách địa lý hay thời gian.
Chính vì vậy, cuộc sống của tất cả mọi người trên thế giới Vanga đều biết rõ và dường như họ đứng trước mặt bà giống như xuất hiện trong một bộ phim. Bà có thể nhìn thấy họ từ khi sinh ra cho đến khi chết.
Nhà tiên tri mù Vanga cũng đã tiên đoán số mạng của trẻ sơ sinh hoặc những em bé chưa chào đời. Vanga từng tuyên bố rằng đã "nhìn thấy" và có thể "nói chuyện" với những người đã qua đời hàng trăm năm trước. Mặc dù biết rõ về tương lai nhưng bà không thích nói nhiều về nó. Một số người tin vào khả năng tiên đoán chính xác của Vanga từng tiết lộ nhà tiên tri mù cũng biết chính xác ngày bà qua đời.
Những tiên đoán sấm sét ấy đã trở thành hiện thực của bà lão mù Vanga có thể kể đến như: "Do những trận mưa phóng xạ nên ở Bắc bán cầu, cả động vật lẫn thực vật đều sẽ bị tiêu diệt vào tháng 3 năm 2011”. Thảm họa thiên nhiên khủng khiếp này đã thực sự xảy ra ở Nhật Bản. Vào ngày 11/3/2011, Nhật Bản hứng chịu thảm họa động đất mạnh 9,0 độ Richter kéo theo cơn sóng thần cao tới 10m. Thảm họa thiên nhiên này đã cuốn phăng đi tất cả mọi thứ nó gặp trên đường và khiến hàng chục thành phố duyên hải ngập chìm trong nước biển. Thêm vào đó, nhà máy điện hạt nhân Fukushima I và Onagawa cũng bị rò rỉ phóng xạ.
Vanga cũng nhiều lần khiến cả nhân loại rùng mình khi tiên đoán chính xác thảm họa hạt nhân Chernobyl xảy ra vào năm 1986 hay tàu ngầm nguyên tử Kursk sẽ chìm trong nước vào năm 1980.
Bà lão mù Vanga cũng đã từng tiên đoán nhiều sự kiện chính xác một cách kinh ngạc như ngày tháng vua Boris III của Bulgari và lãnh tụ Stalin qua đời. Thậm chí, một số nguồn tin còn nói rằng, trùm phát xít Adoft Hitler đã từng đến gặp Vanga. Khi ra về, vẻ mặt của Hitler lộ vẻ tái mét và buồn rầu. Không lâu sau, Hitler tự tử dưới hầm trú ẩn.

Nhiều tiên đoán của bà lão mù Vanga đã trở thành hiện thực. Nhà tiên tri này cũng dự đoán về năm 2014 loài người sẽ phải đối mặt với căn bệnh quái ác ung thư da và các bệnh liên quan da do ảnh hưởng của các cuộc chiến tranh hóa học.
Dưới đây là những tiên đoán của Vanga về nhân loại trong thời gian tới:
Năm 2016: vùng đất châu Âu gần như không có người sinh sống.
Năm 2018: Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc thế giới mới. Những nước phát triển sẽ trở thành kẻ bóc lột các nước khác từ việc khai thác các nguồn tài nguyên khoáng sản.
Năm 2023: Quỹ đạo Trái đất thay đổi.
Năm 2025: Xuất hiện một bộ phận nhỏ người di cư đến châu Âu.
Năm 2028: Loài người sẽ tạo ra một nguồn năng lượng mới, kiểm soát được các phản ứng nhiệt hạch và nạn đói dần dần được khắc phục. Cũng trong khoảng thời gian này, con tàu vũ trụ có người lái lần đầu tiên sẽ đổ bộ lên sao Kim.
Năm 2033: Băng ở các vùng cực sẽ tan chảy. Mực nước ở Thái Bình Dương sẽ dâng cao.
Năm 2043: Nền kinh tế thế giới sẽ rất phát triển. Người Hồi giáo sẽ cai trị toàn bộ lãnh thổ châu Âu.
Năm 2046: Bất kỳ cơ quan nào trong cơ thể con người điều có thể được tiến hành cấy ghép. Việc phẫu thuật thay thế các cơ quan trong cơ thể sẽ trở thành một trong những phương pháp chữa bệnh hữu hiệu nhất.
Năm 2066: Trong cuộc tấn công thành Roma của người hồi giáo, Mỹ sẽ lợi dụng một loại hình vũ khí mới - vũ khí thời tiết. Trong thời gian này, trời trở lạnh đột ngột.
Năm 2076: Xã hội cộng sản hình thành.
Năm 2084: Loài người sẽ khôi phục lại thiên nhiên.
Năm 2088: Nhân loại sẽ phải đối mặt với căn bệnh lạ đó là “lão hóa chỉ trong vài giây".
....
Năm 3797: Sự sống trên Trái đất sẽ kết thúc. Nhân loại sẽ bắt đầu cuộc sống mới trên một “hệ Mặt trời” khác.
Đó là những tiên tri rợn người của bà lão mù Vanga. Liệu những tiên đoán của bà có trở thành hiện thực?

Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2014

15 quốc gia bất ổn nhất trên thế giới

Tạp chí Foreign Policy vừa công bố danh sách các quốc gia bất ổn nhất thế giới (hay còn gọi là chỉ số FSI).
Liberia: Quốc gia nhỏ bé nằm dọc bờ biển phía tây của châu Phi, Liberia trở nên bất ổn trong vòng 1 năm qua do hậu quả của quá trình chuyển sang chế độ dân chủ chậm trễ và xây dựng lại cơ sở hạ tầng quốc gia. Quốc gia này vẫn phải vật lộn với tình trạng người tị nạn ở mức cao và vấn đề di dân, vốn là hậu quả của cuộc nội chiến tàn khốc kéo dài 14 năm.
 
Quốc gia nhỏ bé nằm ở Sừng châu Phi, Eritrea tụt xuống 2 hạng về chỉ số FSI so với năm ngoái. Nước này đã chịu sự cai trị độc tài kể từ khi tuyên bố độc lập với Ethiopia hồi năm 1993. Đồng thời, Eritrea cũng chịu nhiều lệnh trừng phạt của Liên Hiệp Quốc (LHQ) về kinh tế và quân sự do chính phủ nước này hỗ trợ các nhóm vũ trang.
Mặc dù được xếp hạng cao hơn 1 bậc trong bảng chỉ số FSI năm nay, nhưng Burundi vẫn còn nhiều vấn đề nổi cộm ở quốc gia này với hơn 48.000 người tị nạn nước này đang ở Tanzania. Đó là kết quả của cuộc nội chiến nội chiến kéo dài 1 thập kỉ và kết thúc năm 2005. Dưới 2% dân số Burundi được dùng điện. Tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS là 1/15.
 
Ethiopia là nước đang phải chịu áp lực về dân số một cách đáng lo ngại. 64% dân nước này ở độ tuổi dưới 25. Ethiopia còn là nước có tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong cao nhất thế giới.
 
Iraq: Kể từ khi lực lượng quân đội Mỹ rút khỏi Iraq năm 2011, tình hình an ninh của nước này liên tục xuống dốc. Hiện nay, nước này còn phải đối mặt với sự đe dọa từ phiến quân Nhà nước Hồi giáo Iraq và Cận Đông (ISIL).
  
Zimbabwe đối mặt với tình trạng chia rẽ bè phái trong nội bộ giới lãnh đạo thời Tổng thống Robert Mugabe. GDP đầu người của nước này là 600 USD/năm.
  
Pakistan: Nước này sở hữu một loạt “thành tích” đáng nể như: 1 triệu dân sống bơ vơ không nhà cửa, gần 3 triệu người tị nạn Afghanistan đang tá túc ở nước này, chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan lan tràn và tranh chấp biên giới kéo dài âm ỉ với Ấn Độ.
 
Haiti là nước nghèo nhất ở Tây bán cầu với 80% dân số sống dưới mức nghèo. Trận động đất năm 2010 đã phá hủy hệ thống cơ sở hạ tầng và khiến1/4 dân số chết. Quá trình phục hồi đất nước đã bị chậm lại khi nước này hứng chịu 2 cơn bão vào năm 2012. Haiti còn là điểm trung chuyển trong tuyến đường vận chuyển cocaine từ Nam Mỹ sang Mỹ và châu Âu. Ngoài ra, quốc gia này còn lại điểm nóng về nạn buôn bán người.
  
Afghanistan: Sau hơn 1 thập kỉ chịu ảnh hưởng của sự can thiệp từ nước ngoài, Afghanistan đang bị đe dọa bởi phong trào Hồi giáo Taliban và thiếu thốn các dịch vụ công.
  
Với tuổi thọ trung bình 49,44 năm, Chad là quốc gia có tuổi thọ trung bình của người dân ở mức thấp nhất. Mặc dù có cơ sở hạ tầng thiếu thốn, nhưng nước này đang là mái nhà của hơn 500.000 dân tị nạn từ Sudan và Cộng hòa Trung Phi.
 
Sudan: Kể từ năm 2007, lực lượng gìn giữ hòa bình từ Liên minh châu Phi và Liên Hiệp Quốc đã phải vật lộn để ổn định cuộc xung đột đang diễn ra tại Darfur. Kết quả là, gần 3 triệu người phải di dời ở Sudan.
 
Nam Sudan là nước có tình trạng bất ổn nhất trên thế giới trong danh sách của tạp chí Foreign Policy công bố năm nay. Cuộc nội chiến đang diễn ra kể từ khi nước này tuyên bố độc lập năm 2011 đã trở nên trầm trọng hơn vào năm 2013. Hơn 1 triệu người dân buộc phải sơ tán và 250.000 người khác chạy sang các nước láng giềng.