Năm 2012 là năm gay go nhất đối với Nguyễn Tấn Dũng, sau khi suýt bị Bộ Chính Trị kỷ luật, ông Dũng đã buộc phải đứng giữa quốc hội, xin rút kinh nghiệm và kể lể công sức của mình phục vụ đảng từ lúc nhỏ để mong được tha thứ. Đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc lúc đó đã thẳng thừng đặt câu hỏi rằng liệu ông Dũng có nghĩ đến việc từ chức không.? Đây là một câu hỏi thằng thừng mà chưa có tiền lệ đặt ra với lãnh đạo Việt Nam.
Liên tiếp năm 2013 đến 2014 Nguyễn Tấn Dũng phải đối mặt với hàng loạt hướng tấn công từ các đối thủ của mình. Sức tấn công mạnh nhất vẫn từ hướng của Nguyễn Bá Thanh vào vụ án Vinashin. Trong lúc đó Nguyễn Phú Trọng liên tục mở những cuộc chấn chỉnh đảng, phê bình và tự phê bình, những điều đảng viên không làm để nhằm triệt hạ bằng được Nguyễn Tấn Dũng.
Nhưng cái chết bất ngờ của Nguyễn Bá Thanh đã làm đình trệ công cuộc chống tham nhũng hướng vào Nguyễn Tấn Dũng. Kỳ thực cuộc chống tham nhũng đó chỉ là cái tên của một chiến dịch thanh toán nhau trong nội bộ ĐCSVN, bởi tất cả lãnh đạo cộng sản nào cũng tham nhũng, kể cả Nguyễn Bá Thanh.
Nguyễn Tấn Dũng đã có một điểm mạnh mà không có đối thủ nào của ông ta có được. Đó là khả năng biết chia tiền, chia nguồn thu, lợi lộc cho các đồng chí. Tính quyết đoán khi cần thanh toán đối thủ hoặc có thể nhẫn nhịn làm hoà . Những khả năng thường có ở những '' Bố Già '' thượng thặng. Nhờ vậy Nguyễn Tấn Dũng nắm gần hết lá phiếu của ban chấp hành trung ương Đảng để biểu quyết cho mình, thoát được vụ kỷ luật của Bộ Chính Trị năm 2012 và các đợt tấn công những năm sau đó. Để đến năm 2015, sau hai kỳ đại hội trung ương trong năm này, Nguyễn Tấn Dũng nắm gần hết quyền lực trong đảng cộng sản. Một trong những đối thủ nặng ký với Dũng là Phùng Quang Thanh bất ngờ đổ bệnh giữa năm 2015, buộc phải làm đơn xin không ứng cử nhiệm kỳ tới đây vào năm 2016 vì lý do sức khoẻ.
Việc đổ bệnh của Phùng Quang Thanh dập tắt hoàn toàn những đốm lửa le lói còn lại từ chiến dịch của Nguyễn Bá Thanh muốn tấn công Nguyễn Tấn Dũng.
Con đường của Nguyễn Tấn Dũng thênh thang hơn bao giờ hết. Các đối thủ tấn công, người thì đột tử, đột bệnh hoặc trở nên ngoan ngoãn, hiền lành, an phận. Đối thủ có thể cạnh tranh với Dũng bây giờ là Trương Tấn Sang. Nhưng dường như Nguyễn Tấn Dũng không bận tâm đến Sang nhiều. Sang là một kẻ bất tài, không có thực lực, không tạo được vây cánh, cả sự nghiệp lãnh đạo của Sang không có một dấu ấn nào cho thấy Sang có năng lực. Bất quá chỉ là những lời nói '' lạ '' gãi đúng bức xúc của dân chúng, ngoài ra không có gì khá hơn. Nếu một kẻ như Sang có ngồi vào trước ghế TBT nhiệm kỳ tới cũng là điều Dũng chấp nhận được.
Tất cả những vị trí trọng yếu như thủ tướng, bộ trưởng công an, bộ trưởng quốc phòng, chủ tịch quốc hội tới đây đều là tay chân thân tín của Nguyễn Tấn Dũng. Vì vậy Dũng chẳng khó khăn gì, khi để chức TBT Đảng CSVN cho người hữu danh vô thực như Sang duy trì bóng ma hồn cốt của chế độ Cộng Sản, làm bình phong cho Dũng thao túng chính trường.
Trong chế độ cộng sản Việt Nam, chức thủ tưởng, chủ tịch quốc hội chủ tịch nước chỉ là bù nhìn so với Tổng Bí Thư. Nguyễn Tấn Dũng đã thành công trong việc biến chức thủ tướng vốn ít quyền hành trước kia, thành chức có nhiều quyền lực, ảnh hưởng nhất so với các thủ tướng tiền nhiệm như Võ Văn Kiệt Phan Văn Khải,. Chắc chắn tương lai ở cương vị chủ tịch nước, với bộ sậu đàn em dưới trướng. Nguyễn Tấn Dũng sẽ biến chức chủ tịch nước vô vị bấy lâu thành một chức vị quyền lực mạnh nhất, lớn nhất đất nước.
Nếu Dũng làm TBT, mặc nhiên vị trí của Dũng sẽ gây khó khăn cho các đàm phán với quốc tế trước đây. Tầm hoạt động của Dũng bị gò bó trong khuôn khổ nội bộ đất nước. Việc giao tiếp với các nước tư bản hay không cộng sản sẽ trắc trở về thủ tục ngoại giao và danh nghĩa. Ở cương vị CTN Nguyễn Tấn Dũng vẫn có danh chính, ngôn thuận để tiếp xúc thoả thuận bên ngoài và chỉ đạo trong nước thực hiện những đàm phán, thoả thuận đó.
Khả năng Dũng đạt được hai chức Tổng Bí Thư và Chủ Tịch Nước như dư luận đồn đoán là khó xảy ra. Bởi Trung Quốc sẽ không cho phép Việt Nam được bắt chước mô hình Trung Quốc bây giờ. Trừ những thủ đoạn cai trị, trấn áp người trong nước và đối phó với phương Tây bằng thái độ thù địch là được cho phép học tập, áp dụng triển khai ngay. Còn những cải cách khác về kinh tế, chính trị. Việt Nam chỉ được Trung Quốc cho phép làm theo khi cải cách đó có ở Trung Quốc từ 5 năm trở lên.
Trung Quốc đang ráo riết âm mưu ngăn cản Việt Nam chịu ảnh hưởng của Phương Tây. Cho nên một TBT kiêm CTN mà có con rể, con gái quốc tịch Hoa Kỳ như con của Dũng là điều Trung Quốc đương nhiên là không muốn.
Để cân bằng quan hệ quốc tế và quyền lực nội bộ bên trong cùng với những đòi hỏi của dân chúng về một nhà nước pháp quyền, những nhu cầu cấp thiết cần cải cách về kinh tế, pháp luật, nhân quyền, hành chính đồng thời vẫn đảm bảo sự tồn tại của Đảng CSVN mà không gây xáo trộn xã hội bất ngờ.
Chắc chắn Nguyễn Tấn Dũng phải làm Chủ Tịch Nước.
Một vòng thế giới
Kết nối cộng đồng người Việt khắp năm châu
Thứ Ba, 8 tháng 9, 2015
Thứ Ba, 13 tháng 1, 2015
4 điều đau đầu của Trung Quốc năm 2015
Tạp chí The Diplomat đã đăng tải bài viết với nội dung nêu “4 vấn đề khiến Trung Quốc đau đầu năm 2015”.
Điều trăn trở thứ hai đó là Trung Quốc cũng đang thấy lo ngại trước đà tăng trưởng giảm đi của nền kinh tế thế giới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong năm 2015 của Trung Quốc dự đoán ở mức 6,5%-7%, mức thấp hơn nhiều so với những năm gần đây. Chưa kể, các sợi dây liên hệ ngày càng gia tăng giữa nền kinh tế của quốc gia này với cộng đồng quốc tế sẽ làm tăng rủi ro đối với Trung Quốc trong khía cạnh này.
Cuối cùng, các vấn đề giữa Trung Quốc-Triều Tiên trong năm 2015 sẽ khó lòng tìm được tiếng nói chung, nhất là khi Bình Nhưỡng vẫn chưa có những động thái nào muốn nối lại vòng đàm phán sáu bên như hiện nay cả.
Đầu tiên, trang tạp chí có trụ sở ở Tokyo nêu rằng, cuộc tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông
giữa Trung Quốc và các nước trong khu vực sẽ là vấn đề nhức nhối trong
năm 2015 của họ. Mỹ, Nhật Bản đưa ra lập trường cứng rắn với những biện
hộ thuyết phục để phản bác các tuyên bố ngang ngược của Bắc Kinh. Vào
tháng 5/2014, Trung Quốc đã khuấy động tình hình Biển Đông lên khi ngang
nhiên kéo giàn khoan Hải Dương 981 trái phép vào vùng đặc quyền kinh tế
và thềm lục địa của Việt Nam. Kéo theo sau đó là những chỉ trích của
công luận quốc tế cũng như của các nhà lãnh đạo thế giới về việc làm sai
trái của Bắc Kinh.
| Giàn khoan Hải Dương 981
của Trung Quốc hạ đặt trái phép ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục
địa Việt Nam trở thành đề tài tranh luận giữa các bên trên thế giới. |
Điều trăn trở thứ hai đó là Trung Quốc cũng đang thấy lo ngại trước đà tăng trưởng giảm đi của nền kinh tế thế giới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong năm 2015 của Trung Quốc dự đoán ở mức 6,5%-7%, mức thấp hơn nhiều so với những năm gần đây. Chưa kể, các sợi dây liên hệ ngày càng gia tăng giữa nền kinh tế của quốc gia này với cộng đồng quốc tế sẽ làm tăng rủi ro đối với Trung Quốc trong khía cạnh này.
Cùng với đó, mối quan hệ với Nhật Bản
cũng là thách thức thứ ba đối với Trung Quốc trong năm 2015. Mối căng
thẳng giữa hai bên ngày càng gia tăng khi năm 2015 sẽ đánh dấu cột mốc
kỉ niệm 70 năm kết thúc Chiến tranh Thế giới 2. Trung Quốc sẽ nhân đà
trên để tái tuyên bố sự ủng hộ của họ trong việc duy trì trật tự thế
giới thời hậu chiến. Trong khi đó, Nhật Bản sẽ tìm cách nới lỏng các quy
định để tăng sức mạnh của quân đội.
| Ngày 30/12, hai tàu chiến Trung Quốc đã tiến vào vị trí cách quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư 70 km, vị trí gần nhất từ trước tới nay. |
Cuối cùng, các vấn đề giữa Trung Quốc-Triều Tiên trong năm 2015 sẽ khó lòng tìm được tiếng nói chung, nhất là khi Bình Nhưỡng vẫn chưa có những động thái nào muốn nối lại vòng đàm phán sáu bên như hiện nay cả.
Chủ Nhật, 12 tháng 10, 2014
Từ biến cố Hongkong nhìn vào nhà nước Nga – Tàu
Những
tuần qua truyền thông khắp thế giới đổ dồn về Hongkong để theo dõi sát sao cuộc
xuống đường biểu tình đấu tranh chống lại màn diễn dân chủ, với kịch bản đảng
cử dân bầu có nguồn gốc đạo diễn từ Trung Nam Hải, áp đặt mô hình “dân chủ” xã
hội chủ nghĩa, đảng cử dân bầu lên người dân cựu thuộc địa Anh đã quen hít thở,
sống trong không khí bầu cử, ứng cử, tranh cử tự do không nằm dưới sự chỉ định,
sự lãnh đạo của đảng cộng sản Tàu.
Tưởng cũng nên
nhắc lại, Hongkong là tô giới, là nhượng địa “trăm năm” của nhà nước quân chủ
Trung Hoa giao cho thực dân Anh cai trị được trao trả lại cho nhà nước Tàu Cộng
vào năm 1997 với thỏa thuận, cam kết thực hiện "một quốc gia hai chế
độ". Nó có nghĩa là người dân Hongkong được quyền tự trị, được quyền quyết
định số phận, nguyện vọng của họ trên mảnh đất cựu thuộc địa này.
Thế nhưng, bản
chất độc tài cộng sản không thay đổi, thực chất là không thể thay đổi, sau mười
mấy năm thu hồi, sáp nhập vào lục địa Trung Hoa, nhà nước Tàu Cộng trắng trợn
vi phạm cam kết, từng bước thực hiện âm mưu nhuộm đỏ Hongkong, tước đi quyền
công dân, quyền tự do căn bản của con người mà người dân Hongkong được hưởng
dưới sự cai trị của “Vương quốc Anh”.
Việc đầu tiên của
bá quyền Trung Nam Hải thực hiện tham vọng nhuộm đỏ Hongkong là sửa đổi luật
pháp nhằm hạn chế quyền tự do ngôn luận, tiếp theo là đưa vào chương trình
giảng dạy những chuyện hư cấu, thêu dệt, láo lừa về “Mao vĩ đại, đảng thần
thánh” nhồi nhét vào đầu thế hệ trẻ Hongkong, biến một xã hội năng động nhiều
màu sắc Hongkong trở thành một xã hội thụ động nằm dưới chiếc gậy chỉ huy thô
cứng, man rợ của cộng sản lục địa. Việc làm của Tàu Cộng đối với Hongkong giống
như các chiêu trò bịp bợm của Việt cộng áp dụng trong các trường học, các
chương trình tuyên truyền giáo dục tẩy não các thế hệ thanh niên ở Việt Nam đã
gặp sự chống đối quyết liệt của học sinh sinh viên và người dân Hongkong.
Đỉnh điểm của
tham vọng nhuộm đỏ Hongkong, tiêu diệt, phá vỡ nền tảng phát triển hài hòa nhân
bản, tôn trọng luật pháp, tôn trọng quyền dân sự chính trị, quyền con người của
người dân Hongkong là việc Bắc Kinh diễn trò dân chủ, với kế hoạch “luật hóa”
âm mưu đảng cử dân bầu qua các tay chân được đảng Tàu Cộng chỉ định, cài cấm
trong các cơ quan, tổ chức chính quyền của đặc khu Hongkong. Chính điều đó đã
làm cho người dân Hongkong nổi giận tràn xuống đường chiếm đóng trung tâm
(Occupy Center) với khẩu hiệu yêu thương và hòa bình (love and Peace) đòi đặc
khu trưởng Hongkong từ chức với quyết tâm ngăn chận, chống lại kế hoạch chương
trình, sản xuất sản phẩm “đảng cử dân bầu” phi dân chủ của đảng cộng sản Trung
Hoa áp đặt lên Hongkong.
Việc học sinh
sinh viên xuống đường và vận động người dân cùng xuống đường thực hiện quyền
làm chủ của người dân sống trong thể chế chính trị dân chủ, bày tỏ thái độ
chống lại âm mưu bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận, âm mưu giáo dục nhồi sọ, âm
mưu đảng cử dân bầu... nhằm từng bước nhuộm đỏ Hongkong như một thách thức
quyền lực độc tài toàn trị sắt máu, bạo tàn của đảng cộng sản trung Hoa.
Hành động xuống đường
đấu tranh của những người trẻ tuổi Hongkong đã khiến cho những người am hiểu
bản chất Tàu Cộng cảm thấy lo ngại cho sự an toàn của các lãnh đạo tổ chức biểu
tình (Scholarism) họ lo rằng những người thanh niên này chưa đủ bản lãnh, kinh
nghiệm để đối đầu với các tên lãnh đạo Tàu Cộng gian trá độc ác, khát máu đồng
bào, đồng loại của chúng như đã từng xảy ra trong quá khứ!
Những ngày qua dư
luận của giới truyền thông khắp nơi trên thế giới đã bày tỏ sự quan tâm, lo
ngại về việc cảnh sát sử dụng dùi cui, hơi cay, nghiệp vụ trấn áp, bắt giữ một
số lãnh đạo đoàn biểu tình theo “quy định” của luật pháp Hongkong nhưng lực
lượng trấn áp vẫn không ngăn chận được người dân rầm rập xuống đường. Thế nên
bộ mặt “trỗi dậy hòa bình” của Tàu cộng đã lộ mặt qua việc “giở trò” sử dụng
công an mật vụ giả dạng côn đồ gây sự, tấn công những người biểu tình ôn hòa,
giống như an ninh mật vụ Việt cộng đã làm với người dân Việt Nam xuống đường
biểu tình chống tàu Cộng xâm lược.
Chính những diễn
biến xảy ra từng giờ được loan tải trên hệ thống truyền thông quốc tế, có cả
thuận lợi cũng như không thuận lợi cho cuộc biểu tình đấu tranh ở Hong kong. Đã
có một số ngòi bút bình luận, nhận định thời sự cho rằng lãnh đạo đảng cộng sản
Trung Hoa sẽ không nhượng bộ những yêu cầu cấp bách của người dân Hongkong, là
yêu sách đòi đặc khu trưởng Hongkong phải từ chức và tin mới nhất cho biết yêu
cầu này đã không được đáp ứng.
Từ hiện thực
khách quan không nhượng bộ đó, có ý kiến bi quan cho rằng với lịch sử khát máu
vốn có, đảng cộng sản Trung Hoa sẽ không lùi bước và rất có khả năng sẽ diễn ra
một cuộc tắm máu sinh viên Hongkong như Bắc Kinh đã làm với sinh viên lục địa ở
quảng trường Thiên An Môn của 25 năm về trước (?) Cũng có một số ý kiến không
đồng tình với nhận định kịch bản Thiên An Môn sẽ tái diễn ở Hongkong.
Ai cũng thấy
Hongkong với Thiên An Môn có những khác biệt nhất định nên không thể so sánh
Hongkong với Thiên An Môn và mọi so sách đều không có cơ sở lý luận vững chắc
để thuyết phục. Tuy nhiên có một thực tế là hầu hết lãnh đạo của các đảng cộng
sản đều gian manh, lắm trò và rất điên. Thế cho nên mọi tiên đoán đều là giả
định, khó chính xác với một đảng có nhiều thủ đoạn thâm độc như cộng sản Trung
Hoa thì chuyện gì dù có nghịch lý cách mấy cũng đều có thể xảy ra(?)
Nói cho cùng, dù
Tàu Cộng có nhượng bộ hay không nhượng bộ, dù có tắm máu hay không tắm máu cuộc
biểu tình của học sinh sinh viên Hong kong thì giá trị đấu tranh cho khát vọng
tự do, dân chủ không thế lực hung tàn nào có thể dập tắt trong thời đại toàn
cầu hóa hiện nay. Cụ thể là 25 năm trước Tàu Cộng đã tắm máu sinh viên, tắm máu
người dân hoa lục, chúng đã nghiền nát khát vọng tự do, dân chủ dưới vòng xích
sắt của xe tăng và đạn pháo. Ngày nay cuộc xuống đường đấu tranh cho khát vọng
tự do, dân chủ lại tái hiện trên mảnh đất Hongkong, điều đó chứng minh rằng Tàu
Cộng không thể dập tắt ngọn lửa tự do, dân chủ âm ỉ cháy trong lòng người dân
Trung Hoa nói riêng và của nhân loại nói chung.
Quan sát cuộc
xuống đường quy mô đòi quyền lợi chính đáng của người dân Hongkong, không khó
để nhận ra, nó là khúc xương khó nuốt cho cộng sản Trung Hoa, dù chúng có sử
dụng bạo lực hay không sử dụng bạo lực, đều không giải quyết được tận gốc vấn
đề đòi hỏi thực thi tự do, dân chủ của người dân Hongkong. Đấu tranh đòi tự do,
dân chủ cho Hongkong sẽ như vết dầu loang chảy tràn vào trong lục địa Trung
Hoa, chỉ cần một mồi lửa là làm nổ tung bá quyền Đại Hán ra nhiều mảnh nhỏ và
kịch bản sử dụng bạo lực hay không sử dụng bạo lực, sớm hay muộn đều dẫn đến sự
cáo chung của chế độ độc tài toàn trị cộng sản Tàu, có thể diễn ra như sau:
Nếu Tàu Cộng
không sử dụng bạo lực trấn áp phong trào đấu tranh của học sinh sinh viên Hongkong
thì làn sóng đấu tranh cho tự do, dân chủ sẽ lây lan, thổi vào trong lục địa
Trung Hoa thách thức độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản. Sự lớn mạnh của
phong trào đấu tranh cho tự do, dân chủ bên trong nội địa trung hoa đồng nghĩa
với sự suy tàn của độc đảng, độc tài cộng sản và cũng có nghĩa dẫn đến việc kết
thúc chế độ. Đó là sự thật hiển nhiên ai cũng nhìn thấy!
Nếu Tàu Cộng sử
dụng bạo lực của xe tăng đại pháo dẹp biểu tình như chúng đã làm ở Thiên An Môn
hồi 25 năm trước, là vi phạm vào cam kết quốc tế về mô hình “một quốc gia hai
chế độ” của Hongkong. Nếu Tàu Cộng manh động sử dụng bạo lực, chắc chắn sẽ gặp
phản ứng, bao vây cô lập, trừng phạt kinh tế của thế giới, kể cả việc các nước
dân chủ sẽ không tuân thủ, không giữ đúng cam kết với quốc gia đã cố tình vi
phạm luật pháp quốc tế để trang bị vũ khí cho các sắc dân Tây tạng, Tân Cương
đấu tranh giành độc lập, đòi lại chủ quyền lãnh thổ đã bị Tàu Cộng dùng vũ lực
cưỡng chiếm của sắc dân Tây tạng, Tân Cương. Kịch bản trên xảy ra, sẽ đưa nhà
nước Đại hán, nằm dưới vỏ bọc cộng sản về đâu?
Nhận xét sơ lược
về việc Tàu Cộng sử dụng bạo lực hay không sử dụng bạo lực đối với cuộc biểu
tình của sinh viên Hongkong cho chúng ta thấy rằng xu thế dân chủ là xu thế
thời đại không thể đảo ngược, mọi vùng vẫy nhằm bảo vệ chế độ, bảo vệ độc quyền
của đảng cộng sản là bất khả thi. Ra sức bảo vệ đảng chế độ, nó chỉ kéo dài khổ
đau cho người dân nằm dưới ách thống trị độc tài cộng sản chứ chế độ cộng sản
không thể trường trị muôn năm như các khẩu hiệu nhằm động viên các cán bộ, đảng
viên mê cuồng nhiều thứ của đảng cộng sản Việt Nam.
Thực tế chiêu bài
cộng sản và xã hội chủ nghĩa chỉ còn là cái vỏ bao bọc cho tham vọng bành
trướng của nhà nước Đại Hán nhằm lường gạt lãnh đạo ngu dốt, tham lam cộng sản
Việt Nam và Tàu Cộng sử dụng đảng cộng sản Việt Nam như tay sai, nước Việt Nam
như chư hầu, như một tỉnh, quận huyện của Tàu Cộng, phục vụ cho tham vọng thực
dân mới của nhà nước Đại Hán. Tham vọng đế quốc, thực dân của Tàu Cộng cả thế
giới đều thấy chỉ có lãnh đạo Việt Cộng, các tên tay sai mê cuồng cộng sản vì
nhiều ý do giả vờ không thấy và ngoan cố làm tay sai, đưa dân nước vào tròng nô
lệ giặc thù phương bắc.
Qua biến cố
Hongkong giúp cho thế giới thấy rõ hơn bản chất của cái gọi là trỗi dậy hòa
bình của nhà nước Tàu Cộng và cho người dân Việt Nam thấy rõ hơn những biến
tướng của cộng sản Trung Hoa. Nó không thể hòa nhập vào dòng sống với những giá
trị chung của cộng đồng nhân loại, nó không phải là hình mẫu để xây dựng, phát
triển cho Việt Nam làm theo, nó không thể đẩy lùi bất công xã hội, không thể
giải quyết được bất đồng, mâu thuẫn xã hội mà Tàu Cộng còn gây ra những xung
khắc, xung đột xã hội nghiêm trọng hơn mọi hình thức tổ chức cai trị đã từng
hiện diện trong lòng lịch sử nhân loại.
Sự biến tướng của
cộng sản Trung Hoa trở thành nhà nước bá quyền Đại Hán không chỉ riêng Tàu Cộng
ở phương đông mà ở phương tây còn có cộng sản Liên Xô đang thực hiện tham vọng
bá quyền Đại Nga bất chấp luật pháp quốc tế để vẽ lại bản đồ thực dân, đế quốc
kiểu mới ở Ukraine...
Từ cuộc đấu tranh
của học sinh sinh viên Hongkong nhìn ra thế giới bên ngoài, nhất là hai nước
đàn anh Nga – Tàu cựu lãnh đạo phe xã hội chủ nghĩa, chúng ta thấy có thay đổi
một số hình thức bề ngoài nhưng bản chất, tư duy bá quyền, nước lớn vẫn không
thay đổi mà có phần nguy hiểm hơn cho trật tự an ninh, hòa bình thế giới. Sự
nguy hiểm này chỉ sau các tổ chức khủng bố, các nhà nước cực đoan hồi giáo
Trung Đông, Bắc Phi.
Quan sát theo dõi
tình hình đấu tranh cho tự do, dân chủ còn được gọi là cuộc cách mạng dù của
học sinh sinh viên Hongkong để học hỏi những điều phù hợp và có thể ứng dụng
trong đấu tranh cho tự do, dân chủ Việt nam. Bên cạnh đó là mở rộng tầm nhìn
liên quan đến nhà nước Nga – Tàu hiện tại, để các cá nhân, tổ chức đấu tranh
tránh mơ hồ về bản chất của hai nước cựu cộng sản này nhằm rút tỉa kinh nghiệm
lẫn tránh phạm phải sai lầm có thể xảy ra trong công cuộc đấu tranh chống “biến
tướng” của độc tài toàn trị cộng sản Việt Nam và thiết lập thể chế chính trị
dân chủ cho một nước Việt Nam tương lai.
Chủ Nhật, 5 tháng 10, 2014
Quân đội Trung Quốc khoe hàng nóng gì ở Hồng Kông?
Trước làn sóng phản đối chính sách của Bắc Kinh ở Hồng Kông, Quân đội Trung Quốc ngay lập tức khoe kho vũ khí ở đặc khu hành chính này.
Tạp chí Jane’s Defence Weekly đưa tin, từ ngày 29/6 đến 1/7, căn cứ Quân đội Trung Quốc tại Hồng Kông đã mở cửa đón khách khách tham quan và cũng giới thiệu các trang thiết bị khí tài quân sự tối tân được biên chế tại đây.
Trong buổi giới thiệu này, Trung Quốc đã cho người dân Hồng Kông "chiêm ngưỡng" trực thăng tấn công Z-9WA trang bị 2 pháo 23mm ở trên giá treo lần đầu tiên được triển khai tới đặc khu hành chính này. Trước đó, các biến thể đa dụng Z-9B, biến thể chỉ huy - kiểm soát Z-9ZH và Z-9WA trang bị tên lửa chống tăng - rocket đã được nhìn thấy ở vùng lãnh thổ này.
| Máy bay trực thăng chiến đấu hạng nhẹ Z-9WA của Quân đội Trung Quốc. |
Bên cạnh đó, Quân đội Trung Quốc còn trưng bày một số mẫu súng bộ binh tiêu chuẩn của mình gồm: súng lục Type 11, súng ngắn giảm thanh Type 06 (hay còn gọi là QSW06) và súng trường bắn tỉa hạng nặng Type 10 (hay còn gọi là QBU-10). Hai khẩu súng lục đều có cỡ nòng 5,8mm với hộp tiếp đạn 8 viên và 20 viên. Việc sử dụng đạn cỡ 5,8mm là để đồng bộ với súng trường tiến công Type 95-1 mà binh sĩ Trung Quốc đồn trú tại Hồng Kông sử dụng.
Trong đó, QBU10 là mẫu súng trường bắn tỉa cỡ nòng 12,7mm, có trọng lượng lớn hơn 13kg, chiều dài gần 1,4m. Nó có khả năng bắn chính xác mục tiêu bộ binh địch cách 1.000m và lên tới 1.500m đối với các loại trang thiết bị quân sự như xe tải, xe bọc thép.
| Súng trường bắn tỉa QBU10 sử dụng cỡ đạn 12,7mm được giới thiệu hôm 1/7. |
Trung Quốc còn giới thiệu hai mẫu tàu hộ tống Type 056 Jiangdao được biên chế ở Hồng Kông là Huệ Châu (596) và Khâm Châu (597) đóng tại căn cứ Stonecutters, sau hơn một năm đưa vào sử dụng. Bên cạnh đó, quân đội nước này vẫn duy trì lớp tàu tên lửa thế hệ cũ lớp Houjian ở đặc khu hành chính này.
Một số phương tiện mới phục vụ cho hậu cần cũng được giới thiệu tại buổi ra mắt lần này như xe tải đặc chủng Đông Phong EQ2102J được sử dụng cho các mục đích hậu cần như nhà bếp di động và máy phát điện.
Đáng chú ý trong buổi giới thiệu trên còn có sự xuất hiện của mẫu xe bọc thép Đông Phong EQ2050 phiên bản dành cho quân y và phòng dịch. EQ2050 luôn được xem như là phiên bản nhái lại mẫu xe bọc thép nổi tiếng Humvee của Quân đội Mỹ.
| Phiên bản phòng dịch của xe bọc thép Đông Phong EQ2050. |
Trong một động thái gần đây thì Quân đội Trung Quốc ở Hồng Kông cũng tổ chức một đợt diễn tập chống khủng bố với qui mô lớn, cùng với ngày diễn ra các cuộc biểu tình đòi dân chủ của người dân Hồng Kông trước các chính sách ràng buộc quyền tự do bầu cử từ Bắc Kinh.
Thứ Sáu, 19 tháng 9, 2014
Ấn Độ đi nước cờ Biển Đông để chiếu tướng Trung Quốc
Trả lời báo chí vào hôm
nay, 18/09/2014, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Ấn Độ xác định rằng cuộc họp
thượng đỉnh hôm nay giữa Thủ tướng Ấn với Chủ tịch Trung Quốc tại New Delhi
không loại trừ bất kỳ hồ sơ tế nhị nào, « kể cả những vấn đề mới nhất ».
Trong những vấn đề này,
chắc chắn có quyết định của Ấn Độ đẩy mạnh hợp tác với Việt Nam trong việc thăm
dò và khai thác dầu khí ở Biển Đông, vừa được chính thức hóa vào tuần trước,
một quyết định được so sánh với một nước cờ dùng để cảnh cáo Trung Quốc.
Thỏa thuận hợp tác dưới
dạng một ý định thư giữa hai tập đoàn dầu khí Nhà nước ONGC Videsh Limited (OVL)
và Petro Việt Nam ký kết hôm 15/09/2014 nhân chuyến công du Việt Nam của Tổng
thống Pranab Mukherjee đã chính thức hóa việc Ấn Độ mở rộng hoạt động thăm dò
dầu và khí đốt ngoài khơi Việt Nam, cụ thể là tại Biển Đông.
Theo báo chí Ấn Độ, vào
tháng 11 năm 2013, Việt Nam đã đề nghị cho Ấn Độ quyền khai thác 5 lô mới tại
Biển Đông – mang ký hiệu 17, 41, 43, 10 và 11-1 và 102 & 106/10 – đều nằm
ngoài các vùng bị Trung Quốc tranh chấp. Trong số năm lô này, ONGC Videsh sẽ
thăm dò từ 2 đến 3 lô.
Điểm đáng chú ý là quyết
định tăng cường hợp tác Ấn-Việt tại Biển Đông lần này đã được loan báo một cách
công khai và rộng rãi, trái với thái độ tương đối kín đáo trong những lần trước
đây. Tín hiệu đầu tiên chẳng hạn đã được tung ra vài ngày trước lúc Ngoại
trưởng Ấn Độ ghé Việt Nam vào cuối tháng 8, khi hai nước xác nhận là hợp đồng
thăm dò của ONGC tại một lô dầu tại một vùng bị Trung Quốc tranh chấp được triển
hạn thêm một năm.
Theo giới quan sát, trái
với chính quyền tiền nhiệm tại New Delhi, đương kim Thủ tướng Ấn Độ Narendra
Modi và chính phủ của ông có một quyết tâm mạnh mẽ hơn trong việc không để cho Bắc
Kinh lấn lướt, mặc dù vẫn cần đến Trung Quốc về mặt kinh tế.
Khi công khai hóa quyết
định dấn thân sâu hơn vào Biển Đông, một khu vực mà Trung Quốc cho là vùng ảnh
hưởng của họ, chính quyền Modi như muốn nhắn nhủ chế độ Bắc Kinh là tình hình
đã thay đổi, và Trung Quốc không thể tự tung tự tác như họ thường làm.
Lời nhắn nhủ này lại
càng rõ ràng và kiên quyết hơn nữa khi việc ký kết thỏa thuận tăng cường hợp
tác dầu khí với Việt Nam tại vùng Biển Đông được thực hiện vài ngày trước chuyến
công du Ấn Độ của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.
Theo giới phân tích,
việc New Delhi tiến sâu hơn vào Biển Đông nằm trong kế sách đối phó lại chiến
lược vây hãm Ấn Độ mà Bắc Kinh đang đẩy mạnh. Ngoài việc không ngần ngại củng
cố sự hiện diện tại vùng biên giới đang tranh chấp với New Delhi, trong những
năm gần đây, Bắc Kinh đã vung tiền chiêu dụ các quốc gia láng giềng của Ấn Độ
như Pakistan – đối thủ trực tiếp của New Delhi - hoặc Nepal, Sri Lanka,
Maldives, ba nước nằm trong vùng ảnh hưởng của Ấn.
Việc dấn thân sâu hơn
vào khu vực sát cạnh Trung Quốc như Biển Đông, cũng như việc tăng cường quan hệ
quốc phòng với Việt Nam do đó mang ý nghĩa chiến lược rất quan trọng, cho phép
Ấn Độ hiện diện thường xuyên hơn và một cách chính đáng trong vùng.
Bên cạnh đó, chính quyền
Ấn Độ hiện nay cũng mở rộng tầm với của mình đến một nước láng giềng khác của
Trung Quốc là Nhật Bản, với kết quả rõ nét nhất là mới đây, hai Thủ tướng Modi
và Abe đã đồng ý nâng cao quan hệ quốc phòng và chiến lược.
Tại Nhật Bản, thông điệp
của Ấn Độ đối với Trung Quốc đã bộc lộ rõ ràng trong phát biểu « Một số nền
dân chủ như Ấn Độ và Nhật Bản tin tưởng vào hướng phát triển theo con đường của
hòa bình, của Đức Phật. Nhưng vẫn còn một số quốc gia khác vẫn đang theo đuổi
các chính sách bành trướng của thế kỷ 18, lấn chiếm đất đai và vùng biển của
các nước khác. »
Thứ Tư, 10 tháng 9, 2014
Phiến quân IS có thể lan sang Trung Quốc, Đông Nam Á
Sức ảnh hưởng của Nhà nước Hồi giáo (IS) có thể lan sang Đông Nam Á và Trung Quốc bất chấp sự phản đối mạnh mẽ của các nước này.
Tuyên bố trên đưa ra giữa lúc giới chức trách Malaysia thông báo, họ đã
xác định được danh tính của một gia đình gồm 4 người ở nước này tham gia
vào cuộc “thập tự chinh” của tổ chức IS đang lan truyền ở Iraq và Syria.
Ông bố và người con trai trong gia đình này được cho là tham gia cùng
hàng ngũ chiến đấu với các chiến binh thánh chiến, còn bà mẹ đảm trách
việc nấu nướng cho họ. Gia đình này được cho là nằm một trong số 30
người Malaysia tham chiến ở Trung Đông dưới cái bóng của lực lượng IS.
Theo một báo báo đăng trên tờ New Strait Times
(của Singapore), giới chức trách Malaysia đã xác định được 4 tổ chức
khủng bố mới mà có cùng chí hướng giống với IS. Có thể cuối cùng, nhóm
này sẽ tham gia các lực lượng để chiếm các phần đất của Thái Lan, Malaysia, Philippines và Indonesia để thành lập một đế chế Hồi giáo độc lập cai quản cả một vùng Đông Nam Á.
Bốn tổ chức, được xác định bởi các từ
viết tắt BKAW, BAJ, Dimzia và ADI, được cho là có liên kết chặt chẽ với
các nhóm tương tự hoạt động ở khu vực Đông Nam Á cũng như Nhà nước Hồi
giáo (IS) và nhóm khủng bố Abu Sayyaf.
| Các chiến binh Hồi giáo IS. |
Bài báo trên còn đề cập tới việc IS
đang tích cực chiêu mộ các thành viên mới, nhất là giới trẻ, ở Malaysia
thông qua mạng xã hội Facebook cùng các nhóm diễn đàn về tôn giáo trên
mạng khác.
Thủ tướng Malaysia Najib Razak phát
biểu rằng, quốc gia của ông, nơi người Hồi giáo chiếm đa số, đang hợp
tác với tổ chức quốc tế để chống lại tổ chức chiến binh này và sự tác
động của nó.
| Bức ảnh do Bộ Quốc phòng
Iraq công bố trên Facebook cho thấy một công dân được cho là người
Trung Quốc tham gia IS. Anh ta bị các binh sĩ Iraw bắt giữ trong một đợt
công kích. |
Hồi đầu tháng này, Bộ Quốc phòng Iraq
đăng tải lên Facebook hai bức ảnh cho thấy một người đàn ông bị đánh đập
với một dòng đề tựa là anh ta là thành viên IS gốc Trung Quốc. Nếu được
chứng thực, các bức ảnh sẽ là bằng chứng đầu tiên của việc các công dân
mang quốc tịch Trung Quốc tham gia vào nhóm IS.
Đặc phái viên Trung Quốc
tại Trung Đông, Wu Sike, cũng đã tuyên bố rằng, IS có thể đã tuyển mộ
được khoảng 100 công dân nước này, hầu hết đầu là người dân tộc Duy Ngô
Nhĩ ở Tân Cương, một khu vực tự trị bất ổn nằm ở phía tây bắc Trung
Quốc.
Thứ Năm, 21 tháng 8, 2014
Dải Gaza - Cuộc xung đột không hồi kết
Qua
một tuần bùng nổ các cuộc xung đột giữa Israel và Palestine trên Dải
Gaza, tình trạng đẫm máu và con số thương vong đã ngừng lại nhờ một lệnh
ngừng bắn được Ai Cập đề xuất. Tuy nhiên, một lệnh ngừng bắn mong manh
và còn nhiều bất đồng về lợi ích liệu có thể cứu vãn một cuộc xung đột
có chiều dài lịch sử hàng thập kỷ?
Xe tăng Israel chuẩn bị triển khai gần biên giới Dải Gaza
Dải Gaza là một vùng đất nhỏ nằm giữa Israel và Ai
Cập. Đây là khu vực từng chứng kiến nhiều cuộc chiến tranh và luôn chìm
trong những bất ổn trong suốt nửa thập kỷ qua. Nguyên nhân đằng sau
những xung đột ở Dải Gaza luôn thay đổi theo thời gian và sự lãnh đạo
của từng Chính phủ trong từng thời kỳ.
Trong thời gian trở lại đây, Dải Gaza luôn là một
trong những chiến trường đẫm máu nhất với con số thương vong rất lớn. Từ
nhiều thập kỷ qua, vùng đất bị nguyền rủa này luôn phải hứng chịu nhiều
cuộc xâm lược, công kích và ngày càng có xu hướng vượt tầm kiểm soát
của thế giới. Ngày nay, Dải Gaza đã trở thành một trong những nguyên
nhân chủ yếu gây nên tình trạng bất ổn tại Trung Đông, cùng hàng loạt
các phong trào biểu tình trên khắp thế giới.
Lịch sử Dải Gaza
Căn nguyên của cuộc xung đột ở Dải Gaza bắt đầu từ
khi người Do Thái và người Ả Rập cùng tuyên bố chủ quyền của mình đối
với một vùng lãnh thổ. Trong những năm 1880, cộng đồng người Do Thái bắt
đầu cuộc hành trình ra toàn thế giới với ước muốn tìm lại mảnh đất
nguồn cội của mình. Cũng kể từ đó, cộng đồng Cơ đốc giáo La Mã tìm cách
tẩy chay người Do Thái và đẩy họ tới chỗ không còn nơi sinh sống. Người
Do Thái sau đó đã nỗ lực tự họ thành lập ra nhà nước Palestine và hành
động này cho ra đời chủ nghĩa phục quốc Do Thái. Trong khoảng thời gian
này, Palestine chủ yếu tập trung cộng đồng người Ả Rập, vốn chẳng mấy
hài lòng với việc người Do Thái định cư ở vùng đất của họ và gọi nó là
mảnh đất quê hương của mình. Trong khoảng 1917 đến 1947, mảnh đất này là
thuộc địa của Anh và bởi vậy khá yên bình. Năm 1947, người Anh trao trả
vấn đề Palestine cho Liên Hợp Quốc, và trong tình cảnh đó, việc phân
chia Palestine là lựa chọn duy nhất đối với tổ chức này. Sau quá trình
chia tách, nhà nước độc lập Israel ra đời. Tuy nhiên, việc phân tách
đường biên do Liên Hợp Quốc khởi tạo đã không thể làm hài lòng cả đôi
bên, và từ đó liên tiếp bùng nổ các cuộc xung đột đẫm máu giữa hai bên.
Nhóm Hồi giáo vũ trang Hamas
trong một buổi diễu binh tại Rafah, phía Nam Gaza
Vùng đất bị nguyền rủa
Năm 2006, cả Dải Gaza và khu vực bờ Tây sông Jordan
đều tổ chức bầu cử. Đảng Hamas – vốn có tư tưởng chống Israel và không
công nhận sự tồn tại của quốc gia này đã giành chiến thắng. Một cuộc nội
chiến khốc liệt đã nổ ra giữa một bên là Hamas và đảng cầm quyền trước
đây – Fatah với kết quả dẫn tới sự tuyệt diệt của Fatah trên Dải Gaza.
Kể từ tháng 6-2007, Hamas chính thức nắm quyền lực ở Dải Gaza, tiếp tục
giọng điệu và các hành động hòng tiêu diệt nhà nước Israel; mở ra một
chương mới trong lịch sử tranh chấp với hàng loạt các cuộc chiến nổ ra
giữa Israel và Palestine.
Giữa năm 2007, lực lượng vũ trang Palestine đã bắn
hơn 200 quả rocket Qassam vào thị trấn Sderot của Israel. Để đáp trả,
Israel đã tổ chức không kích bằng tên lửa và bom nhằm vào các mục tiêu
chính trị và quân sự của Palestine. Tháng 2-1008, lực lượng bộ binh
Israel một lần nữa đổ bộ vào Dải Gaza, sát hại gần 100 binh sĩ nhóm
Hamas chỉ trong một ngày. Ngoài ra, Israel cũng cắt nguồn cung cấp điện,
nhiên liệu và các nhu yếu phẩm khác tới Dải Gaza, nhằm làm suy yếu sức
mạnh của Hamas. Bất chấp nỗ lực của toàn thế giới trong việc hàn gắn rạn
nứt giữa hai nhà nước, Hamas tiếp tục phóng rocket vào lãnh thổ Israel.
Ngày 19-1-2008, Ai Cập với tư cách trung gian hòa giải đã đứng ra khởi
tạo một lệnh ngừng bắn giữa hai nhân tố chiến tranh và khu vực được
chứng kiến một khoảng thời gian hòa bình ngắn ngủi bên cạnh một số vụ nã
rocket đơn lẻ của Hamas. Ngày 4-11-2008, quân đội Israel tổ chức đột
kích một hầm ngầm của nhóm Hamas – vốn được xây dựng để bắt cóc lính gác
Israel dọc biên giới. Lệnh ngừng bắn của Ai Cập chỉ tồn tại trong thời
gian ngắn ngủi khi vào ngày 20-12 cùng năm đó, Hamas chính thức tuyên bố
phá bỏ lệnh ngừng bắn dự kiến duy trì trong 6 tháng.
Ngày 27-12-2008, quân đội Israel tổ chức một cuộc
tổng không kích nhằm vào các mục tiêu chính trị - quân sự của Hamas ở
Dải Gaza, khiến gần 300 người Palestine thiệt mạng ngay trong ngày đầu
tiên. Cuộc chiến tiếp diễn bằng một cuộc đổ bộ toàn diện của lực lượng
bộ binh Israel vào biên giới Dải Gaza và Hamas tiếp tục đáp trả bằng
rocket Qassam cùng một số chủng tên lửa tầm xa có khả năng với tới một
số thành phố của Israel như Ashkelon và Ashdod.
Ngày 3-1-2009, hàng nghìn lính Israel được chia làm
3 trung đoàn, được hỗ trợ bởi xe tăng và trực thăng, một lần nữa tấn
công Dải Gaza. Chỉ trong giờ đầu tiên nổ ra xung đột, quân đội Israel đã
báo cáo có 30 trường hợp bị thương và "vài chục” người thiệt mạng bên
phía Hamas. Đây là cuộc chiến đầu tiên mà lực lượng hải quân Israel xuất
hiện. Kết thúc ngày đầu tiên của cuộc đổ bộ, Israel tuyên bố rằng quân
đội của họ đã chia tách và bao vây thành phố chính của Dải Gaza. Nhiều
chiến dịch lớn của Israel tại các thị trấn phía Bắc Dải Gaza như Beit
Lahiya, Beit Hanoun và Jabaliya cũng được báo cáo.
Ngày 6-1-2009, Israel châm ngòi hàng loạt đạn pháo
nhằm thủ tiêu cái mà họ gọi là các bệ phóng rocket của Hamas. Một trong
những trái đạn pháo của Israel đã đáp trúng một trường học của Liên Hợp
Quốc ở Palestine, khiến ít nhất 40 thường dân thiệt mạng. Bị cộng đồng
quốc tế lên án, Israel biện minh rằng họ chỉ tấn công vào các điểm đặt
bệ phóng tên lửa của Hamas, và kể từ đây sức ép của các lãnh đạo toàn
thế giới đã đặt Israel trong tầm quan sát. Bất chấp những ý kiến phản
đối, lực lượng vũ trang Israel tiếp tục đẩy mạnh các cuộc công kích vào
một số khu vực tập trung dân cư phía nam thành phố Gaza trong ngày 11-1,
gây nên một cuộc chiến căng thẳng, giành giật từng ngôi nhà, từng con
phố tại khu vực này.
Ngày 17-1, Israel tuyên bố một lệnh ngừng bắn đơn
phương, quyết định ngừng toàn bộ các chiến dịch không kích mà không cần
ký kết bất kỳ thỏa thuận nào với Hamas. Ngày tiếp theo, Hamas, nhóm Hồi
giáo vũ trang Jihad và nhiều nhóm vũ trang Palestine cũng tuyên bố ngừng
phóng rocket vào lãnh thổ Israel trong vòng một tuần lễ với điều kiện
Israel rút khỏi Dải Gaza ngay trong tuần. Chấp thuận yêu cầu, quân đội
Israel rút khỏi Gaza và bắt đầu nới lỏng lệnh cấm vận đối với các mặt
hàng thiết yếu cung cấp cho Dải Gaza.
Nhiều thường dân Palestine thiệt mạng
sau một cuộc không kích của Israel
Chiến sự không hồi kết
Chiến sự giữa Israel và Palestine bắt đầu bùng nổ
từ hôm 14-11-2012, sau khi đợt không kích của Israel nhằm trả đũa các
đợt nã rocket đơn lẻ từ bên kia biên giới, khiến lãnh đạo quân sự nhóm
Hamas thiệt mạng. Mục tiêu mà Israel từng tuyên bố công khai là làm suy
yếu sức mạnh quân sự của Gaza và buộc nhóm Hamas ngừng việc nã rocket
qua biên giới hai nước.
Xung đột lại tiếp tục leo thang khi nhóm Hamas bắn
hàng chục quả đạn pháo vào Israel làm ít nhất 3 người thiệt mạng, để trả
đũa vụ không kích. Đây là tổn hại nhân mạng đầu tiên về phía Israel sau
khi nước này tiến hành nhiều đợt không kích trong và xung quanh thành
phố Gaza do Hamas kiểm soát trong đợt bạo lực nghiêm trọng nhất kể từ
sau cuộc chiến cách đây 4 năm. Để trả đũa, Israel đã 20 lần tấn công
bằng máy bay, xe tăng và tàu hải quân nhắm vào Dải Gaza trong ngày 15-11
làm hơn 13 người Palestine thiệt mạng, gồm chỉ huy quân sự Ahmed Said
Khali al-Jaban của Hamas và hơn 100 người bị thương.
Dưới nỗ lực của trung gian hòa giải Ai Cập, Liên
Hợp Quốc và một số quốc gia khác, giới chức Israel và Nhóm Hamas đã chấp
nhận ngồi vào bàn đàm phán. Đến ngày 22-11, thỏa thuận ngừng bắn giữa
Israel và nhóm Hamas chính thức có hiệu lực, tạm thời chấm dứt hơn một
tuần xung đột đẫm máu ở Dải Gaza, đồng thời tháo ngòi cho một cuộc chiến
tranh tổng lực trên bộ do Israel tổ chức. Dư luận cho rằng, việc đạt
được Thỏa thuận ngừng bắn giữa Israel và các phong trào vũ trang
Palestine tại Dải Gaza mới chỉ là thành công bước đầu. Việc duy trì thỏa
thuận mới là điều quan trọng nhất, bởi lẽ ngay sau khi thỏa thuận ngừng
bắn được công bố, 12 quả rocket từ Dải Gaza đã bắn sang Israel nhưng
không gây thương vong hay thiệt hại nào. Thủ tướng Israel cảnh báo nếu
thỏa thuận thất bại, Israel sẽ cân nhắc "hành động quân sự dữ dội hơn”
nhằm vào Dải Gaza.
* Rất khó có thể phân tích ai là người
chịu trách nhiệm cho cuộc xung đột ở Dải Gaza. Một số nhà phân tích từng
đổ lỗi cho Mỹ vì không công nhận nhóm Hamas sau cuộc bầu cử dân chủ ở
Palestine. Một số khác buộc tội Israel đã đánh bom các căn cứ ngầm của
Palestine trong khi lệnh ngừng bắn giữa hai bên đang có hiệu lực. Số còn
lại cáo buộc Hamas vì có hành động khiêu khích bằng rocket qua biên
giới.
* Theo ước tính của Liên Hợp Quốc, cuộc
xâm lược của Israel trên Dải Gaza đã khiến 524 người Palestine thiệt
mạng và khoảng 2.600 người bị thương, đa số là thành viên của nhóm
Hamas. Ngày 27-12-2008, Israel cũng đưa ra con số thương vong, trong đó
có 1 lính, 3 thường dân thiệt mạng và 30 người khác bị thương do các đợt
nã rocket của Hamas. Mặc dù được coi là chiến thắng trong cuộc chiến,
Israel vẫn chịu vô số lời chỉ trích của cộng đồng quốc tế trên toàn thế
giới. Cho tới nay, Gaza vẫn là một vùng đất bị nguyền rủa với những cuộc
xung đột tưởng chừng không bao giờ đi đến hồi kết.
Thứ Hai, 18 tháng 8, 2014
10 trận không chiến lớn nhất trong lịch sử quân sự
Không chiến đã trở
thành một yếu tố quan trọng trong chiến tranh hiện đại kể từ đầu những
năm 1900 và đã tạo ra một số câu chuyện thú vị nhất trong lịch sử quân
sự thế giới.
Các cuộc không chiến thường kéo dài nhiều giờ, nhiều ngày và với sự tham gia của hàng nghìn máy bay chiến đấu. |
Trong
suốt thế kỷ 20, khi các quân đội truyền thống giao tranh với nhau và
trước khi sức mạnh không quân của Mỹ có sự vượt trội, các cuộc không
chiến thường kéo dài nhiều giờ, nhiều ngày và với sự tham gia của hàng
nghìn máy bay chiến đấu. Những trận chiến này thường đóng vai trò quyết
định đến kết cục chiến tranh.
Đại
học Norwich (Anh) mới đây đã phát hành một tài liệu (ảnh đồ họa) về các
trận không chiến lớn nhất và dài nhất trong lịch sử. Hầu hết trong số
đó là diễn ra trong giai đoạn nửa đầu của thế kỷ 20 và trên một quy mô
lớn, thậm chí là khó hiểu. Dưới đây là 10 trận không chiến trong lịch sử
đáng chú ý nhất:
1. Trận Vòng cung Kursk
Trận
không chiến quy mô lớn này được coi là hao tiền tốn của nhất trong các
trận chiến trên không mà cuối cùng đã kết thúc với thất bại thuộc về
người Đức.
Để chuẩn bị cho cuộc
chiến này, Đức đã huy động 1/3 tổng sức mạnh quân sự của mình, sử dụng
2.792 chiếc máy bay chiến đấu đối đầu với 2.000 máy bay Liên Xô. Tổng
cộng 500.000 người đã chết, bị thương hoặc mất tích sau cuộc chiến (diễn
ra từ ngày 4/7-23/8/1943).
2. Trận chiến ở Anh
Trận
giao tranh diễn ra vào ngày 25/8/1940. Để chuẩn bị cho trận đánh lớn
này, quân Đức tập trung hơn 2.000 máy bay chiến đấu sẵn sàng để tấn công
675 máy bay của Anh. Không quân Đức gồm có 3 phi đội với 2.800 máy bay
chiến đấu, 2/3 trong số này là máy bay ném bom.
Các
phi công của phía Đức đều có kinh nghiệm và sự tự tin, đến nỗi chỉ huy
của họ dự đoán rằng chiến thắng sẽ đến chỉ trong vài ngày. Tuy nhiên,
chiến thắng cuối cùng lại thuộc về người Anh.
3. Không chiến tại ST. Mihiel (Pháp)
Cuộc
chiến diễn ra từ ngày 12-16/12/1918. Trong trận này, quân Đồng minh
đông gấp 3 lần quân Đức (500 máy bay Đức và 1.476 máy bay quân đồng
minh), 60% trong số này là của Pháp, Anh và Italy. Lực lượng Đồng minh
đã chiến đấu chống lại quân Đức trong một trận không chiến đầu tiên và
lớn nhất mọi thời đại.
Ngày đầu
của cuộc chiến, máy bay Mỹ đã xuất kích 390 lần, thả gần 6.500 tấn bom.
Ngày cuối của cuộc chiến, máy bay Mỹ xuất kích 2.469 lần, không chiến
145 trận và thả khoảng 20.000 tấn bom. Kết quả cuối cùng, Mỹ và đồng
minh giành chiến thắng.
4. Chiến dịch Mole Cricket 19
Chiến
dịch diễn ra ở Beqaa Valley, Liban ngày 9/6/1982. Khoảng 100 máy bay
chiến đấu tham gia trận chiến này và được cho là một trong những trận
không chiến lớn nhất kể từ khi kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ 2.
Trong
một chiến dịch tấn công đáng kinh ngạc, 90 máy bay Israel đã phá hủy 80
trong tổng số 100 máy bay chiến đấu của Syria mà không bị tổn thất nào.
Ngoài
ra, chỉ trong vòng 2 giờ, Không quân Israel đã phá hủy tổng cộng 19 bệ
phóng tên lửa đất đối không của Syria mà không bị thiệt hại một chiếc
máy bay nào. Trận chiến kết thúc với sự đề xuất về một lệnh ngừng bắn
của Mỹ.
5. Trận chiến trên biển Philippines
700
máy bay Nhật đã chiến đấu chống lại 1.000 máy bay Mỹ trong một trong
những trận đánh mang tính quyết định nhất của cuộc Chiến tranh Thế giới
thứ 2.
Diễn ra từ ngày
19-20/1944, nhưng trong ngày đầu, Nhật đã thiệt hại 300 trong tổng số
430 máy bay. Cuối cùng, Mỹ giành chiến thắng với thiệt hại chỉ 40 máy
bay.
6. Trận không chiến El Mansoura
Ngày
14/10/1973, Không quân Israel đã thực hiện một cuộc tấn công từ trên
không quy mô lớn chống lại Không quân của Ai Cập ở El Mansoura (Ai Cập).
Trận không chiến này xuất hiện trong cuộc chiến Yom Kippur.
Trận chiến Israel - Ai Cập chỉ kéo dài hơn 1 giờ, nhưng nó là trận đánh trên không dài nhất giữa các máy bay phản lực.
Israel
huy động khoảng 120-164 máy bay đối đầu với 62 máy bay của Ai Cập. Kết
quả, Ai Cập chiến thắng với thiệt hại khoảng 3-7 máy bay trong khi
Israel bị phá hủy 10-18 máy bay.
7. “Ngày thứ Năm đen tối”
Đây
là cuộc chiến diễn ra với nỗ lực của Liên Xô và CHDCND Triều Tiên chống
lại Mỹ. Các chuyên gia cho rằng cuộc không chiến này tạo nền tảng cho
sự ra đời của các máy bay chiến đấu hiện đại.
MiG
Alley được cho là "nơi sản sinh ra cuộc chiến của máy bay chiến đấu
phản lực". "MiG Alley" là cái tên được các phi công thuộc lực lượng quân
sự của Liên Hợp Quốc đặt cho khu vực chia cắt phía tây bắc của Triều
Tiên. Trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, tại khu vực này diễn ra một
loạt các trận không chiến giữa các phi công của lực lượng Liên Hợp Quốc
với phi công của Triều Tiên và đôi khi là của Trung Quốc hoặc Liên Xô.
Các
cuộc không chiến diễn ra ở MiG Alley của Triều Tiên là thường xuyên,
nhưng một sự cố tồi tệ nhất đã xảy ra đối với Mỹ vào ngày 12/4/1951.
Không quân Mỹ đã gọi đó là "Ngày thứ Năm đen tối".
Chỉ
30 chiếc máy bay MiG-15 do Liên Xô sản xuất đã tấn công 136 máy bay Mỹ,
trong số này có 36 pháo đài bay B-29 và 100 chiếc F-80 Shooting Star và
F-84 Thunder. Cuộc tấn công này đã chứng tỏ rằng máy bay ném bom B-29
đang bị lỗi thời.
Kết quả, Liên Xô thắng trong trận giao tranh này mà không bị tổn thất chiếc máy bay nào, trong khi Mỹ thiệt hại 12 chiếc.
8. Không chiến ở Nis Serbia
Diễn
ra vào ngày 7/11/1944, trận không chiến này là cuộc xung đột quân sự
trực tiếp duy nhất từng xảy ra giữa Liên Xô và Mỹ trong lịch sử.
Các
máy bay ném bom của Mỹ đã vì một lý do chưa được xác định đã bay 400km
chỉ để nhằm phát hiện bộ binh của Liên Xô triển khai ở Belgrade. Sau đó,
vụ đụng độ đã xảy ra giữa các máy bay ném bom P-38 của Mỹ với 9 chiếc
máy bay chiến đấu Yak của Liên Xô trong vòng 15 phút.
Thương vong chắc chắn là có, nhưng cho đến nay con số thiệt hại chính xác của hai bên vẫn chưa được tiết lộ.
9. Cuộc tấn công Dieppe
Đây
được coi là trận không chiến trong một ngày lớn nhất trong Chiến tranh
Thế giới thứ 2, diễn ra giữa Đức và quân Đồng minh vào ngày 19/8/1942 ở
Dieppe, Pháp.
Nó diễn ra trong
cuộc tấn công của lực lượng hải quân Đồng minh nhằm vào cảng Dieppe vốn
bị chiếm đóng bởi quân Đức. Liên quân đã sử dụng 74 phi đội máy bay, 237
tàu chiến và 5.000 binh sĩ của Canada, 1.000 quân Anh cùng 50 biệt kích
Mỹ.
Kết quả, người Đức đã giành
chiến thắng với thiệt hại 170 máy bay, 311 binh sĩ tử trận, trong khi
phía Đồng minh là 4.384 binh sĩ tử trận, 106 máy bay, 34 tàu chiến và 10
xe tăng bị phá hủy.
10. “Ngày thứ Sáu đen tối”
Quân
đội Đức ở Sunnfjord, Na Uy với khoảng 300.000 người đã yêu cầu các tàu
tiếp tế và các tàu này trở thành mục tiêu tấn công chủ yếu của quân Đồng
minh.
Hơn 50 máy bay chiến đấu
đã tham gia tấn công các tàu tiếp tế trên vào ngày 9/2/1945. Nhưng cuối
cùng quân Đồng minh đã thất bại trong việc ngăn chặn tàu khu trục tiếp
cận điểm cần đến. Đức chỉ có 4 binh sĩ thiệt mạng so với con số 14 của
phe Đồng minh, trong khi không một chiếc tàu nào bị đánh chìm.
Đức
đã thắng trong trận chiến này, nhưng điều làm cho trận không chiến
Sunnfjord trở nên nổi tiếng là thực tế không có thương vong dân sự nào.
Chủ Nhật, 17 tháng 8, 2014
3 Yếu tố an toàn cho hoạt động xã hội dân sự trong nước độc tài
Các nguyên tắc căn bản về hoạt động xã hội dân sự áp dụng cho mọi môi
trường. Tuy nhiên, khi chế độ độc tài đang khống chế cả xã hội thì các
nguyên tắc này chưa đủ. Các bài học từ những xã hội mở không giúp chúng
ta cách đối phó với những khó khăn và nguy hiểm thuộc vùng “cấm địa”.
Bởi vậy, hoạt động xã hội dân sự trong “cấm địa” đòi hỏi thêm 3 yếu tố:
hành lang an toàn, vòng đai an toàn, và hậu cứ an toàn.
Hành lang an toàn
Hành lang này được tạo nên bởi sự quan tâm và can thiệp của quốc tế trong một lãnh vực nhân quyền nhất định, như quyền lao động, quyền tự do tôn giáo, quyền văn hoá, quyền không bị tra tấn, quyền không bị nô lệ, quyền của người khuyết tật… Khi chế độ độc tài, dưới áp lực quốc tế, cam kết tôn trọng một lãnh vực nhân quyền thì đó là khởi điểm để xây dựng một hành lang an toàn.
Một ví dụ gần nhất là chuyến thị sát của Báo Cáo Viên Đặc Biệt của LHQ về tự do tôn giáo hay tín ngưỡng đang nâng sự quan tâm quốc tế về tình hình đàn áp tự do tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam. Qua các công tác quốc tế vận hiệu quả, sự quan tâm này có thể mỗi ngày được nâng cao và đắp dày thêm để trở thành bức tường che chắn. Đằng sau bức tường ấy là hành lang an toàn cho những người hoạt động tôn giáo. Dĩ nhiên sự an toàn ấy chỉ tương đối và tuỳ thuộc vào mức độ quan tâm và can thiệp của quốc tế.
Có nhiều cách để tăng mức an toàn, như là ở ngoài thì dùng quốc tế vận để áp lực chế độ phải tôn trọng quyền sinh hoạt tôn giáo của mọi người dân mà không phải đăng ký, và ở trong thì các cộng đồng tôn giáo nhanh chóng đào tạo số chuyên viên về báo cáo vi phạm tự do tôn giáo với LHQ và các quốc gia có ảnh hưởng lên chính quyền Việt Nam.
Trong phạm vi hẹp của hành lang an toàn, người hoạt động xã hội dân sự có thể thực thi từng bước các quyền của mình, như quyền tự do ngôn luận, quyền hội họp ôn hoà, quyền lập hội. Cũng dùng ví dụ trên, nếu đã gọi là tự do tôn giáo thì tín hữu phải có quyền truyền thông với nhau qua các bản tin và các trang blog hay facebook; phải có quyền tụ tập để cầu nguyện, dậy giáo lý và thực hiện các sinh hoạt tôn giáo khác; phải có quyền lập ra các nhóm từ thiện và bác ái để trước hết tương trợ cho nhau và rồi phục vụ xã hội theo đúng tín lý của tôn giáo mình.
Một người hay một nhóm người có thể hoạt động trong hai hay nhiều hành lang an toàn và như vậy nới rộng không gian hoạt động. Chẳng hạn, một cộng đồng tôn giáo đang hoạt động về tự do tôn giáo cũng có thể hoạt động trong các hành lang an toàn khác đã được thiết lập như phòng chống buôn người hay chống tra tấn.
“Hành lang an toàn” khai dụng sự liên đới giữa tất cả các nhân quyền: Nếu vi phạm một quyền thì tất cả các quyền khác cũng đều bị vi phạm. Ngược lại, chọn một nhân quyền làm mũi nhọn để khai dụng thì qua đó các quyền khác cũng lần lượt được triển khai quanh mũi nhọn ấy. Nhìn cách khác, khi hành lang an toàn được thiết lập từ một mũi nhọn nhân quyền, nó cung ứng môi trường để thực thi những quyền khác với điều kiện phải giữ mình ở trong phạm vi tương đối an toàn của hành lang. Bước ra bên ngoài bức tường che chắn thì chẳng khác gì tự banh áo giáp và phơi ngực trước tầm nhắm của chế độ.
Nguy hiểm hơn, khi một tổ chức thuộc khu vực xã hội dân sự bị xâm nhập bởi đảng phái chính trị hay hợp tác với tổ chức trá hình do đảng phái chính trị tạo dựng thì đồng nghĩa với mở lỗ hổng nơi bức tường che chắn, gây nguy hiểm cho mình và liên luỵ đến tất cả những ai giao du, hoạt động với mình.
Vòng đai an toàn
Dù giữ mình trong phạm vi của hành lang an toàn, những người tiên phong và chủ chốt luôn luôn đối mặt với sự đe doạ nhiều hơn là những người khác, cho nên cần thêm “vòng đai an toàn” bao quanh từng cá nhân. Đó là sự chú ý đặc biệt và sẵn sàng can thiệp của quốc tế nếu có bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm nào cho những cá nhân này.
Chẳng hạn, trước khi đẩy mũi nhọn tự do tôn giáo để rồi mở hành lang an toàn, chúng tôi tạo cơ hội cho một số chức sắc tôn giáo điều trần tại Quốc Hội Hoa Kỳ, tiếp xúc với các phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ, gặp gỡ giới chức của nhiều toà đại sứ Tây Phương, và liên lạc trực tiếp với LHQ. Bao quanh họ là một vòng đai an toàn ngày càng dày đặc. Khi công an sách nhiễu một chức sắc Cao Đài, lập tức Chủ Tịch Hội Đồng Nhân Quyền Tom Lantos của Hạ Viện Hoa Kỳ lên tiếng và toà đại sứ Hoa Kỳ đã gọi điện thoại để theo dõi tình hình và báo cáo cho Quốc Hội; mới đây phái đoàn của Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ cùng với Đại Sứ Hoa Kỳ và một số nhân viên toà đại sứ đã họp với chức sắc ấy và hai đồng sự ở Hà Nội. Trước đó, Báo Cáo Viên Đặc Biệt của LHQ về tự do tôn giáo hay tín ngưỡng cũng đã đến thăm chức sắc này và đồng sự tại nơi cư trú ở Vĩnh Long.
Vòng đai an toàn phải được tạo lập trước khi một cá nhân tham gia những công việc dễ thu hút sự sách nhiễu hay đàn áp. Điều này đòi hỏi có sự chuẩn bị từ rất sớm về kế hoạch và nhân sự chuyên môn cho quốc tế vận, và một cơ chế để can thiệp cấp thời khi hữu sự.
Khi một người hoạt động trong nhiều hành lang an toàn thì vòng đai an toàn cho cá nhân cũng sẽ rộng ra vì cùng lúc nhận được sự chú ý và can thiệp của các giới chức quốc tế thuộc các lãnh vực nhân quyền khác nhau. Tuy nhiên, trải mình ra quá rộng thì không thể củng cố về chiều sâu và tầm chuyên môn của hoạt động.
Hậu cứ an toàn
Dù giữ mình trong hành lang an toàn và dù có vòng đai an toàn bảo bọc, một cá nhân vẫn có thể gặp hiểm nguy vì sự an toàn chỉ là tương đối. Chế độ sẽ không bó tay và ngồi yên. Cho nên phải có sẵn một “hậu cứ an toàn” để rút về mà công việc vẫn liên tục. Muốn vậy thì phải có một tổ chức với những thành viên có khả năng để sẵn sàng đổi chỗ cho nhau: người cần rút về “hậu cứ” hoán chuyển vai trò và công tác với người bước ra tiền phương. Đây là một vai trò đặc biệt của tổ chức hoạt động xã hội dân sự trong môi trường không an toàn. Các người hoạt động riêng rẽ không hề có hậu cứ an toàn.
Trong 15 năm qua, BPSOS dùng quốc tế vận để lần lượt mở ra nhiều hành lang an toàn quanh các mũi nhọn nhân quyền như tự do tôn giáo, chống buôn người, chống cưỡng chiếm đất đai, chống tra tấn, tự do cho tù nhân lương tâm, quyền lao động… Trong những năm gần đây, Liên Minh Cho Một Việt Nam Tự Do Và Dân Chủ và tiền thân của nó đã thiết lập vòng đai an toàn cho ngày càng đông những người hoạt động tiên phong. BPSOS còn có chương trình bảo vệ đồng bào đi lánh nạn ở Thái Lan và Mã Lai hoặc đến tị nạn trực tiếp ở Hoa Kỳ, nhưng đây không phải là “hậu cứ an toàn” theo nghĩa trên. Hậu cứ an toàn phải do chính người trong nước thực hiện qua việc hình thành và củng cố các tổ chức hoạt động xã hội dân sự đúng nghĩa.
Cưu mang cho xã hội dân sự thoát thai từ thể chế độc tài là vô cùng khó khăn và nguy hiểm. Chúng ta có thể giảm bớt những khó khăn và nguy hiểm ấy nếu làm đúng việc, đúng cách và đúng lúc.
Hành lang an toàn
Hành lang này được tạo nên bởi sự quan tâm và can thiệp của quốc tế trong một lãnh vực nhân quyền nhất định, như quyền lao động, quyền tự do tôn giáo, quyền văn hoá, quyền không bị tra tấn, quyền không bị nô lệ, quyền của người khuyết tật… Khi chế độ độc tài, dưới áp lực quốc tế, cam kết tôn trọng một lãnh vực nhân quyền thì đó là khởi điểm để xây dựng một hành lang an toàn.
Một ví dụ gần nhất là chuyến thị sát của Báo Cáo Viên Đặc Biệt của LHQ về tự do tôn giáo hay tín ngưỡng đang nâng sự quan tâm quốc tế về tình hình đàn áp tự do tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam. Qua các công tác quốc tế vận hiệu quả, sự quan tâm này có thể mỗi ngày được nâng cao và đắp dày thêm để trở thành bức tường che chắn. Đằng sau bức tường ấy là hành lang an toàn cho những người hoạt động tôn giáo. Dĩ nhiên sự an toàn ấy chỉ tương đối và tuỳ thuộc vào mức độ quan tâm và can thiệp của quốc tế.
Có nhiều cách để tăng mức an toàn, như là ở ngoài thì dùng quốc tế vận để áp lực chế độ phải tôn trọng quyền sinh hoạt tôn giáo của mọi người dân mà không phải đăng ký, và ở trong thì các cộng đồng tôn giáo nhanh chóng đào tạo số chuyên viên về báo cáo vi phạm tự do tôn giáo với LHQ và các quốc gia có ảnh hưởng lên chính quyền Việt Nam.
Trong phạm vi hẹp của hành lang an toàn, người hoạt động xã hội dân sự có thể thực thi từng bước các quyền của mình, như quyền tự do ngôn luận, quyền hội họp ôn hoà, quyền lập hội. Cũng dùng ví dụ trên, nếu đã gọi là tự do tôn giáo thì tín hữu phải có quyền truyền thông với nhau qua các bản tin và các trang blog hay facebook; phải có quyền tụ tập để cầu nguyện, dậy giáo lý và thực hiện các sinh hoạt tôn giáo khác; phải có quyền lập ra các nhóm từ thiện và bác ái để trước hết tương trợ cho nhau và rồi phục vụ xã hội theo đúng tín lý của tôn giáo mình.
Một người hay một nhóm người có thể hoạt động trong hai hay nhiều hành lang an toàn và như vậy nới rộng không gian hoạt động. Chẳng hạn, một cộng đồng tôn giáo đang hoạt động về tự do tôn giáo cũng có thể hoạt động trong các hành lang an toàn khác đã được thiết lập như phòng chống buôn người hay chống tra tấn.
“Hành lang an toàn” khai dụng sự liên đới giữa tất cả các nhân quyền: Nếu vi phạm một quyền thì tất cả các quyền khác cũng đều bị vi phạm. Ngược lại, chọn một nhân quyền làm mũi nhọn để khai dụng thì qua đó các quyền khác cũng lần lượt được triển khai quanh mũi nhọn ấy. Nhìn cách khác, khi hành lang an toàn được thiết lập từ một mũi nhọn nhân quyền, nó cung ứng môi trường để thực thi những quyền khác với điều kiện phải giữ mình ở trong phạm vi tương đối an toàn của hành lang. Bước ra bên ngoài bức tường che chắn thì chẳng khác gì tự banh áo giáp và phơi ngực trước tầm nhắm của chế độ.
Nguy hiểm hơn, khi một tổ chức thuộc khu vực xã hội dân sự bị xâm nhập bởi đảng phái chính trị hay hợp tác với tổ chức trá hình do đảng phái chính trị tạo dựng thì đồng nghĩa với mở lỗ hổng nơi bức tường che chắn, gây nguy hiểm cho mình và liên luỵ đến tất cả những ai giao du, hoạt động với mình.
Vòng đai an toàn
Dù giữ mình trong phạm vi của hành lang an toàn, những người tiên phong và chủ chốt luôn luôn đối mặt với sự đe doạ nhiều hơn là những người khác, cho nên cần thêm “vòng đai an toàn” bao quanh từng cá nhân. Đó là sự chú ý đặc biệt và sẵn sàng can thiệp của quốc tế nếu có bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm nào cho những cá nhân này.
Chẳng hạn, trước khi đẩy mũi nhọn tự do tôn giáo để rồi mở hành lang an toàn, chúng tôi tạo cơ hội cho một số chức sắc tôn giáo điều trần tại Quốc Hội Hoa Kỳ, tiếp xúc với các phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ, gặp gỡ giới chức của nhiều toà đại sứ Tây Phương, và liên lạc trực tiếp với LHQ. Bao quanh họ là một vòng đai an toàn ngày càng dày đặc. Khi công an sách nhiễu một chức sắc Cao Đài, lập tức Chủ Tịch Hội Đồng Nhân Quyền Tom Lantos của Hạ Viện Hoa Kỳ lên tiếng và toà đại sứ Hoa Kỳ đã gọi điện thoại để theo dõi tình hình và báo cáo cho Quốc Hội; mới đây phái đoàn của Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ cùng với Đại Sứ Hoa Kỳ và một số nhân viên toà đại sứ đã họp với chức sắc ấy và hai đồng sự ở Hà Nội. Trước đó, Báo Cáo Viên Đặc Biệt của LHQ về tự do tôn giáo hay tín ngưỡng cũng đã đến thăm chức sắc này và đồng sự tại nơi cư trú ở Vĩnh Long.
Vòng đai an toàn phải được tạo lập trước khi một cá nhân tham gia những công việc dễ thu hút sự sách nhiễu hay đàn áp. Điều này đòi hỏi có sự chuẩn bị từ rất sớm về kế hoạch và nhân sự chuyên môn cho quốc tế vận, và một cơ chế để can thiệp cấp thời khi hữu sự.
Khi một người hoạt động trong nhiều hành lang an toàn thì vòng đai an toàn cho cá nhân cũng sẽ rộng ra vì cùng lúc nhận được sự chú ý và can thiệp của các giới chức quốc tế thuộc các lãnh vực nhân quyền khác nhau. Tuy nhiên, trải mình ra quá rộng thì không thể củng cố về chiều sâu và tầm chuyên môn của hoạt động.
Hậu cứ an toàn
Dù giữ mình trong hành lang an toàn và dù có vòng đai an toàn bảo bọc, một cá nhân vẫn có thể gặp hiểm nguy vì sự an toàn chỉ là tương đối. Chế độ sẽ không bó tay và ngồi yên. Cho nên phải có sẵn một “hậu cứ an toàn” để rút về mà công việc vẫn liên tục. Muốn vậy thì phải có một tổ chức với những thành viên có khả năng để sẵn sàng đổi chỗ cho nhau: người cần rút về “hậu cứ” hoán chuyển vai trò và công tác với người bước ra tiền phương. Đây là một vai trò đặc biệt của tổ chức hoạt động xã hội dân sự trong môi trường không an toàn. Các người hoạt động riêng rẽ không hề có hậu cứ an toàn.
Trong 15 năm qua, BPSOS dùng quốc tế vận để lần lượt mở ra nhiều hành lang an toàn quanh các mũi nhọn nhân quyền như tự do tôn giáo, chống buôn người, chống cưỡng chiếm đất đai, chống tra tấn, tự do cho tù nhân lương tâm, quyền lao động… Trong những năm gần đây, Liên Minh Cho Một Việt Nam Tự Do Và Dân Chủ và tiền thân của nó đã thiết lập vòng đai an toàn cho ngày càng đông những người hoạt động tiên phong. BPSOS còn có chương trình bảo vệ đồng bào đi lánh nạn ở Thái Lan và Mã Lai hoặc đến tị nạn trực tiếp ở Hoa Kỳ, nhưng đây không phải là “hậu cứ an toàn” theo nghĩa trên. Hậu cứ an toàn phải do chính người trong nước thực hiện qua việc hình thành và củng cố các tổ chức hoạt động xã hội dân sự đúng nghĩa.
Cưu mang cho xã hội dân sự thoát thai từ thể chế độc tài là vô cùng khó khăn và nguy hiểm. Chúng ta có thể giảm bớt những khó khăn và nguy hiểm ấy nếu làm đúng việc, đúng cách và đúng lúc.
Thứ Năm, 14 tháng 8, 2014
Tìm hiểu cơ bản về Islam (Hồi giáo)
Islamnguyên nghĩa là “sự phục tùng”, nên tín ngưỡng nàyliên quan đến việc tuân phục hoàn toàn vào Thượng đế mà Muslim (người theo đạo Hồi giáo) gọi là ALLAH. Người Muslim tin rằng tín lý của họ do Allah mặc khải cho Rasul (Thiên sứ) Muhammad. Những lời này được tập hợp lại trong Qur’an (Thiênkinh) của Islam.
* Tín lý Islam
Tín lý Islam được diễn đạt trong câu Shahadat (tuyên ngôn đức tin) “La i la ha il lal lah – Không có Thượng đế nào ngoài Allah – Mu ham madar rasu lullah – Muhammad
là Rasul của Allah “Người Muslim tin rằng có sự phán xét sau cùng.
Allah sẽ tùy theo phúc hay tội của từng người mà cho vào thiên đàng hoặc
giam vào hỏa ngục. Để có cuộc sống tốt, người Muslim tuân theo những
lời chỉ dạy trong Qur’an và Hadith (lời và việc làm của Rasul Muhammad cùng 62 người những đồng sự của Rasul) .
* Thế giới Islam
Sau
khi tín lý được mặc khải cho Muhammad, Islam lan nhanh khắp Trung đông
và Bắc Phi. Trung đông là trung tâm của Islam. Tại miền này, Islam là
tôn giáo chính ở nhiều quốc gia. Mọi người Muslim đều hướng về Makkah (Mecca
– thuộc Saudi Arabia) mỗi khi hành lễ và mong ước hành hương Hajj nơi
thánh địa Makkah một lần trong đời người. Islam có nhiều tín đồ ở Bắc
Phi và Đông Nam Á. Tuy là tôn giáo có sau nhưng Islam phát triển nhanh
nhất so với các tôn giáo khác nhờ vào hoạt động truyền giáo và dân số
tăng nhanh nơi những nước Islam. Hiện nay, có hơn 1 tỷ 8 người Muslim
trên toàn thế giới.
Năm trụ cột của Islam
Mọi
người Muslim phải thực hiện những việc quy định mệnh danh là Năm trụ
cột (Rukun Islam) và xem sự thực hiện này là một phần trong nghĩa vụ
phụng thờ Allah. Mỗi trụ xem như một cấu trúc tạo nên nền tảng vững chắc
cho tôn giáo . Quan trọng hàng đầu là trụ thứ 1 (tuyên ngôn đức tin).
Shahadat: đây là lời tuyên xưng đức tin của người Muslim “La i la ha il lal lah – Không có Thượng đế nào ngoài Allah – Mu ham madar rasu lullah – Muhammad là rasul của Allah “Muôn trở thành một người Muslim phải tuyên xưng câu này.
Salat (hành lễ) :
Salat là hình thức thờ phượng chính của Islam. Người Muslim phải hành
lễ năm lần trong một ngày vào những giờ được quy định cụ thể. Buổi hành
lễ chung cử hành tại Masjid (thánh
đường) mỗi trưa thứ sáu là ngày lễ chính trong tuần (Salat Jumat). Kinh
Qur’an dạy người Muslim thể hiện sự hành lễ nên tư thế hành lễ cũng
quan trọng. Các tư thế đó là: đứng, khom người và phủ phục. Trong những
tư thế đó buộc trán, ngón chân, đầu gối, bàn tay phài chạm đất .
Sawm (nhịn tháng Ramadan- tháng thứ 9 Hồi lịch) :
Việc nhịn này là không đưa bất cứ vật gì từ ngoài vào cơ thể người và
thực hiện từ sáng đến tối trong một ngày và đủ 30 ngày. Buổi tối thì
sinh hoạt bình thường.
Zakat (bố thí) :
Người Muslim luôn ra tay giúp đỡ kẻ nghèo khó. Zakat còn bao hàm ý niệm
là phụng thờ Allah một cách gián tiếp qua việc cảm tạ ân phúc của
Người.
Hajj (hành hương) :
Nếu có điều kiện và khả năng, Muslim phải thực hiện Hajj đến Makkah tối
thiểu một lần trong đời người. Cuộc hành hương Hajj được thực hiện vào
tháng Zulhidjah (tháng 12 Hồi lịch).
Người hành hương (nam) mặc trang phục Ihrams màu trắng, không đường
may, chỉ quấn lên người và Ihrams này sẽ là vải liệm của họ khi qua
đời.
Umma:
Cộng
đồng Islam được gọi là Umma. Sau này khi Islam lan rộng thì umma ám chỉ
người theo Islam (Muslim) bất kể sắc tộc, quốc tịch, ý thức hệ. Umma
tạo nên tình đoàn kết tôn giáo để đối phó với những thách thức trước các
thuyết thế tục.
Phái Sufi:
Là
phái thần bí của Islam. Nó nhấn mạnh mối quan hệ của cá nhân với Allah
và xem đây là bổ sung cho lề luật của Allah. Tín đồ Sufi ra sức trở nên
gần gũi với Allah bằng cách cử hành nghi thức có nhạc, hát ca, nhảy múa và luyện hít thở nhằm đạt được trạng thái huyền nhiệm. Phái Sufi còn đề cao nhân đức khiêm cung và sự chăm sóc tha nhân.
* Các hệ phái sufi:
Sufi có nhiều hệ phái riêng, mỗi hệ phái dưới sự lãnh đạo tinh thần của
shaykh. Hệ phái nào cũng có những tín đồ và các tu sĩ Hồi giáo (gọi là
faqir hoặc dervish). Giới tu sĩ phái sufi Thổ Nhĩ Kỳ được mệnh danh là
“những thầy tu luân vũ” vì họ có điệu nhảy rất sinh động.
Phái Sunni:
Chiếm
90% Muslim trên thế giói theo phái sunni. Sunni từ chữ “sunnah”
nghĩa là con đường của Rasul Muhammad đã vạch ra qua lời giảng và việc
làm của ông. Muslim theo sunni công nhận những caliph đầu tiên là kế vị
hợp thức của Rasul Muhammad và đề cao quan điểm cùng tập tục của số đông
Umma Islam.
* Truyền thống Sunni
: Nhiều nhóm tín đồ tách khỏi nguồn tư tưởng của phái sunni. Vào thế kỷ
thứ VII, nhóm Kharijis đã có quan điểm khác về nhiều vấn đề thần học và
minh định tín lý. Một số nhóm nhỏ hơn vẫn tồn tại đến ngày nay như nhóm
Ibadi (Oman) và Đông Phi. Nhóm Yezidi tôn kính Melek Taus một vị thiên
thần sa ngã nhưng họ tin là đã được Allah tha thứ .
Phái Shi’ite :
Đây
là một trong những phái chính của Islam. Tên Shi’ite xuất phát từ tiếng
Ả rập “Shi’at Ali” (đảng của Ali). Phái Shi’ite tin rằng Ali và hậu duệ
của ông là những lãnh đạo thực sự của Umma. Họ đề cao sự hy sinh gian
khổ và tôn kính Husayn (con của Ali) vì vị này đã tử đạo ở Kerbela (năm
680 SCN). Phái Shi’te hình thành hệ thống giáo luật riêng. Trào lưu cấp
tiến hơn của Shi’ite đã được dấy lên qua cuộc cách mạng Iran.
* Truyền thống Shi’ite : Shi’ite chiếm đa số ở quốc gia Iran và miền nam Irak. Có vài hệ phái phát triển từ một nhóm gọi là Isma’ili. Điển hình là Druzes ở Lebanon .
Thiên kinh Qur’an :
Nền
tảng tín lý Islam là kinh Qur’an. Người Muslim tin rằng đây là những
lời phán dạy của Thượng đế Allah. Kinh Qur’an nói về Allah và sự cao cả
của Người; về bổn phận của bầy tôi phải vâng phục Allah; về vai trò của
Muhammad là người truyền đạt thông điệp của Allah. Kinh Qur’an còn ghi
những lời dạy về gia đình và cộng đồng. Kinh này được bổ sung bằng
sunnah là bộ tổng tập về những việc lảm và lời dạy của Rasul Muhammad.
Kinh Qur’an và sunnah hình thành nguồn giáo luật Islam. Kinh Qur’an được
Allah mặc khải cho Muhammad thông qua thiên thần Jibrael suốt thời gian
20 năm. Người Muslim đọc kinh Qur’an bằng tiếng Ả rập là ngôn ngữ chính
trong nguyên bản.
Hadith:
Là
tổng tập lời dạy của Muhammad hoặc của một trong các đồng sự của
Muhammad. Hadith bao hàm những chỉ giáo liên quan đến các lĩnh vực của
đời sống. Uy lực của Hadith rất lớn, chỉ đứng sau kinh Qur’an.
Shari’a (luật Islam):
Là
con đường mà mọi người Muslim phải noi theo suốt đời. Kinh Qur’an và
Hadith hình thành nền tảng của Shari’a. Nếu một vấn đề cá biệt nào đó
chưa đề cập ở đây, thì lúc đó áp dụng nguyên tắc loại suy hoặc dựa theo
tập tục của cộng đồng cư dân.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)